SKKN Một số biện pháp chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở Trường THCS Nguyễn Khuyến

docx 35 trang Venus 18/07/2025 1210
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở Trường THCS Nguyễn Khuyến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_chi_dao_sinh_hoat_to_chuyen_mon_theo_h.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở Trường THCS Nguyễn Khuyến

  1. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG THCS NGUYỄN KHUYẾN ---------------------------------- A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn SKKN: “Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp...” là một trong những nội dung quan trọng được nêu trong Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế". Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo không ngoài mục đích nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học nói riêng. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp giáo dục và đội ngũ giáo viên giảng dạy. Một trong những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ phương pháp dạy truyền thống chủ yếu "thầy giảng trò nghe một chiều, thầy giáo đóng vai trò trung tâm còn hoc sinh thụ động tiếp nhận" sang dạy học với phương châm học sinh tích cực chủ động chiếm lĩnh tri thức dưới sự hướng dẫn của người thầy. Mục tiêu của giáo dục và đào tạo là xây dựng thế hệ trẻ có tri thức, sức khỏe, chủ động, sáng tạo, chủ nhân của đất nước có khả năng hội nhập và xây dựng đất nước. Yêu cầu đó đòi hỏi một sự đổi mới bắt đầu từ nền tảng giáo dục. Làm thế nào để học sinh trở thành trung tâm của quá trình dạy học một cách tích cực, chủ động, sáng tạo trên cơ sở định hướng của thầy cô giáo? Có thể nói chưa bao giờ ngành Giáo dục và Đào tạo lại đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ và toàn diện như thế. Và để bắt đầu cho công cuộc đổi mới này, thiết nghĩ đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn là tiền đề để tạo sự chuyển biến, đổi mới trong nhận thức và hành động của đội ngũ nhà giáo. Về tính cấp bách và cần thiết trong đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn, ngày 25/02/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ra kế hoạch số 80/KH-BGDĐT về "tổ chức
  2. thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong trường phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên". Sinh hoạt tổ chuyên môn là nơi thực hiện các hoạt động chia sẻ cùng đồng nghiệp về chuyên môn, là môi trường tốt nhất cho những giáo viên còn hạn chế về năng lực và chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy có dịp để trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ tay nghề. Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều nhà trường, hoạt động của tổ chuyên môn thông thường là xây dựng kế hoạch, quy định chế độ sinh hoạt, tổ chức nhận xét dự giờ thăm lớp, hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, tiến hành các hoạt động kiểm tra .nên chưa phát huy được hiệu quả của tổ chuyên môn. Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn chưa phong phú, hình thức còn đơn điệu, gò bó, chưa đi sâu vào các vấn đề trọng tâm đổi mới phương pháp dạy học và tháo gỡ những khó khăn cho giáo viên trong tổ. Trong các buổi sinh hoạt, không khí thường trầm lắng, giáo viên ít phát biểu ý kiến, chủ yếu tổ trưởng triển khai nội dung; những vấn đề mới và khó ít được mang ra bàn bạc, thảo luận. Thực trạng đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn hiện nay ở các trường phổ thông nói chung trong đó có trường THCS Nguyễn Khuyến nói riêng cũng còn nhiều lúng túng, chất lượng sinh hoạt tổ còn thấp. Điều này có nhiều nguyên nhân: nếp sinh hoạt theo lối mòn lâu nay đã ăn sâu vào nhận thức của cán bộ, giáo viên; hiện trạng về cơ sở vật chất hầu như không được đầu tư, trang bị gì thêm; đặc biệt tổ trưởng chuyên môn vẫn còn ngại đổi mới; chưa mạnh dạn thay đổi cách nghĩ, cách làm trong điều hành sinh hoạt tổ chuyên môn. Là một cán bộ quản lý trường học, bản thân tôi cũng nhiều lần tham gia sinh hoạt chuyên môn ở các trường bạn trên địa bàn thành phố Kon Tum, đồng thời quản lý, chỉ đạo trực tiếp hoạt động của các tổ chuyên môn của trường mình, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ : làm thế nào để nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học theo các công văn chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục để đáp ứng yêu cầu đổi mới? Từ mong muốn đó, tôi mạnh dạn đề xuất sáng kiến: Một số biện pháp chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. 2. Mục đích của SKKN
  3. - Sáng kiến nhằm đưa ra một số giải pháp, cách làm, định hướng để tổ trưởng chuyên môn sinh hoạt theo hướng nghiên cứu bài học góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. Vấn đề là cần hiểu một cách thấu đáo thế nào là sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học? Thực chất là thao giảng chuyên đề, bởi từ một bài dạy cụ thể, phải khái quát được, đúc rút được kinh nghiệm để dạy những dạng bài tương tự ( dạng bài cung cấp kiến thức, kỹ năng; dạng bài Ôn tập, Luyện tập, dạng bài Thực hành v.v...) . - Làm chuyển biến nhận thức, năng lực tổ trưởng chuyên môn, của giáo viên về việc phải mạnh dạn đổi mới nhận thức, cách nghĩ, cách làm để nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn, nâng cao chất lượng dạy học nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 29 của Hội nghị TW lần thứ 8. - Xây dựng TCM thành tổ chức học tập, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các GV để mọi người có cơ hội lựa chọn những thông tin cần thiết cho công việc của mình; tạo động lực làm việc cho GV, phát huy vai trò tự chủ của GV trong chuyên môn. - Phát huy tốt vai trò của TTCM, phân công nhiệm vụ hợp lý, phát huy tối đa năng lực tiềm tàng và vai trò của mỗi GV trong tổ; tăng cường khả năng làm việc nhóm và sự hợp tác của các GV trong tổ. - Tạo cơ hội cho tất cả giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và phát huy khả năng sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học thông qua việc dự giờ, trao đổi, thảo luận, chia sẻ sau khi dự giờ đồng nghiệp. - Góp phần làm thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường: mối quan hệ giữa Ban giám hiệu với giáo viên, giáo viên với giáo viên, giáo viên với học sinh và học sinh với học sinh; tạo môi trường làm việc, dạy và học dân chủ, thân thiện cho tất cả mọi người. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận của vấn đề;
  4. Theo Điều lệ trường phổ thông, tổ chuyên môn là đơn vị nhỏ nhất quản lí chỉ đạo các hoạt động giáo dục mà trọng tâm là công tác dạy - học ở trường phổ thông. Nói đến sinh hoạt chuyên đề của tổ chuyên môn hiểu đúng nghĩa thì đây là công việc trao đổi, bàn bạc các vấn đề cần làm sáng tỏ, đúc rút kinh nghiệm trong dạy học. Sinh hoạt tổ chuyên môn có nhiều hình thức và nội dung: đánh giá, triển khai công việc, xây dựng chuyên đề thao giảng, trao đổi dạy các dạng bài dài, khó...không nhất thiết cứ là thao giảng bởi có những vấn đề không áp dụng ở một bài dạy nào đó, ví dụ: Chuyên đề: xây dựng đội ngũ, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi... Thao giảng chuyên đề theo hướng nghiên cứu bài học là lựa chọn ưu tiên, tuy nhiên chất lượng thao giảng chuyên đề nhìn chung ở các trường THCS nói chung và ở trương THCS Nguyễn Khuyến nói riêng chất lượng còn thấp. Thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng hoạt đông của tổ chuyên môn nhằm đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh, có rất nhiều các văn bản chỉ đạo của các cấp: Kế hoạch số 80-BGD&ĐT ngày 25/2/2014 về tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong trường phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên"; Công văn 5555 ngày 8/10/2014 V/v hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá; tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ trung tâm Giáo dục thường xuyên qua mạng. Các công văn hướng dẫn của Sở GD&ĐT: CV 1659/SGD&ĐT-GDTrH ngày 31/12/2014 V/v Hướng dẫn SHCM về đổi mới PPDH, KTĐG, tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn qua mạng; CV của PGD&ĐT Thành phố Kon Tum V/v thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn bậc THCS. Nhiều cán bộ quản lý giáo dục các cấp, nhiều tác giả cũng đã có những bài viết liên quan đến nội dung, biện pháp liên quan đến lĩnh vực này. Đó cũng là những cơ sở để hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn phong phú về diễn đàn trao đổi. Thế nào là sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (NCBH)? Thực ra đây là một khái niệm không mới hoàn toàn. Suy cho cùng, sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học chính là hoạt trao đổi, bàn bạc để dạy một
  5. dạng bài, kiểu bài cụ thể để từ đó, mọi giáo viên có thể rút kinh nghiệm áp dụng vào dạy học của mình. Khác ở đây là không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng HS. Vậy vấn đề đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Thực tế là việc dự giờ và đánh giá tiết dạy của GV thông qua quan sát HS. - Trước hết, tổ trưởng cần xác định mục tiêu kiến thức và kĩ năng mà HS cần đạt được khi tiến hành nghiên cứu. Đề xuất với thành viên trong tổ chuyên môn để giáo viên trong tổ (nhóm) sẽ thảo luận chi tiết, cụ thể chọn bài học, thời gian tiến hành bài dạy, lớp thực hiện bài dạy minh họa, GV thực hiện dạy minh họa. - GV trong tổ (nhóm) thảo luận xây dựng giáo án cho bài học minh họa. (Khi thảo luận cần xác định mục tiêu, sử dụng các PP và phương tiện dạy học. Dự kiến tổ chức hoạt động dạy học nào tương ứng? Dự kiến tích hợp nội dung giáo dục nào là phù hợp? Dự kiến khả năng học sinh tham gia vào bài học, các tình huống dạy học có thể xảy ra...) 2. Thực trạng công tác sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học: Sinh hoạt tổ chuyên môn trong nhà trường hiện nay được thực hiện khá nghiêm túc. Theo quy định trong Thông tư 12-BGD&ĐT ban hành điều lệ trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định: tổ chuyên môn sinh hoạt ít nhất 2 lần /tháng. Nội dung sinh hoạt xoay quanh các hoạt động như đã nói ở trên. Trong sinh hoạt chuyên môn truyền thống, hình thức này được tổ chức theo một quy trình tương đối thống nhất: Nhà trường (Tổ chuyên môn) phân công giáo viên dạy - giảng dạy trên lớp - họp rút kinh nghiệm - xếp loại tiết dạy. Cách tổ chức như vậy chưa thu hút sự tham gia tích cực của giáo viên. Nguyên nhân cơ bản là do cán bộ quản lý và giáo viên chưa xác định đúng mục đích, ý nghĩa của sinh hoạt chuyên môn. Quan niệm rắng việc tổ chức dự giờ - rút kinh nghiệm
  6. - sau đó đánh giá tiết dạy, thống nhất phương pháp, quy trình dạy học và đánh giá xếp loại giáo viên là vấn đề cốt lõi của sinh hoạt chuyên môn. 2.1. Thuận lợi: - Vấn đề thao giảng chuyên đề dưới hình thức tổ chức nghiên cứu bài học đã được các tổ chuyên môn thực hiện..được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, hình thức sinh hoạt chuyên môn theo kiểu dự giờ được thực hiện thường xuyên nhằm nâng cao năng lực giảng dạy của giáo viên - Các trường phổ thông nói chung và các tổ chuyên môn THCS nói riêng đã chú trọng đến công tác thao giảng chuyên đề. Xem đây là một trong các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học - Những vấn đề được các tổ chuyên môn và giáo viên xây dựng xuất phát từ những vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học. Nhiều chuyên đề có tính thiết thực, có tác dụng. - Các tổ chuyên môn cơ bản đều thực hiện quy trình: lựa chọn→ xây dựng→ thể nghiệm→ kết luận áp dụng chuyên đề. - Các quy trình nói trên ở trường chúng tôi được thực hiện khá nghiêm túc, được phê duyệt, chỉnh sửa của Ban giám hiệu nhà trường. 2.2. Khó khăn, bất cập: - Chất lượng của các chuyên đề chưa cao. Một số chuyên đề mang tính đối phó. Nhiều chuyên đề thiếu tính khoa học, khái quát. Ví dụ: chưa đưa ra được các biện pháp, giải pháp. Dự giờ còn tập trung đánh giá người dạy mà chưa quan sát đúng mức hoạt động của người học. Việc chuẩn bị đôi khi kỹ quá làm người dự không còn thấy tình huống trong giờ học. - Vấn đề kết luận để thực hiện áp dụng chuyên đề chưa rõ ràng, cụ thể. - Còn nhầm lẫn ở một tiết giảng chuyên đề với một tiết dạy bình thường. 2.3. Nguyên nhân:
  7. - Mô hình mới về sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học còn khá mới mẻ, chủ yếu cán bộ giáo viên mới chỉ được tiêp cận ở dạng lý thuyết qua các đợt tập huấn bồi dưỡng chuyên môn ngắn ngủi. - Công tác chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chuyên môn của Ban giám hiệu chưa sâu sát, còn khoán trắng cho các tổ chuyên môn. - Năng lực, khả năng của đại đa số giáo viên, tổ trưởng chuyên môn về thực hiện chuyên đề thao giảng theo hướng nghiên cứu bài học còn hạn chế. - Công tác thao giảng chuyên đề được giáo viên và các tổ chuyên môn nhận thức chưa sâu, chưa nắm được bản chất. Đồng nghĩa thao giảng chuyên đề với một giờ dạy bình thường có người dự giờ. - Giáo viên và các tổ chuyên môn chưa có thói quen đào sâu suy nghĩ, ngại tìm tòi, muốn làm cho xong chuyện... - Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học theo mô hình trường học mới VNEN ( đây là mô hình lý tưởng cho việc thực hiện sinh hoạt tổ chuyên môn và dạy thể hiện chuyên đề nói trên) chưa được đáp ứng trong điều kiện nền kinh tế khó khăn chung hiện nay của đất nước cũng như địa phương Kon Tum. 3. Một số biện pháp chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. 3.1. Xây dựng nhận thức về đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. a. Đối tượng tác động: Toàn thể cán bộ, giáo viên nhà trường. b. Mục đích: Làm cho toàn thể cán bộ, giáo viên thay đổi nhận thức lâu nay về công tác thao giảng chuyên đề với sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học có điểm nào chung, những gì cần thay đổi. c. Nội dung: Quán triệt chuyên đề tập huấn, so sánh, đối chiếu, tỏ chức trải nghiệm cho các tổ chuyên môn thực hiện. Với mục tiêu cuối cùng là các tổ chuyên môn với các
  8. thành viên trong tổ đều được cung cấp những kiến thức cơ bản và kỹ năng thực hành chuyên đề. d. Về hình thức: Tổ chức học tập kỹ nội dung sinh hoạt theo hướng nghiên cứu bài học chung cho toàn trường sau khi mọi người đã được tập huấn trong hè. Mục đích cuối cùng, giáo viên phải nắm bản chất của hoạt động chuyên môn này như sau: Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu Sinh hoạt chuyên môn truyền thống bài học - Không thực hiện đánh giá xếp loại giờ - Tập trung vào việc đánh giá, xếp loại dạy theo các tiêu chí đã quy định. tiết dạy theo các tiêu chí đã quy định - Tạo cơ hội cho GV phát triển năng lực khi xây dựng chuyên đề thao giảng. chuyên môn, phát huy khả năng sáng - Thống nhất cách dạy các dạng bài để tạo của mình, kết nối lí thuyết với thực 1. Mục tất cả GV thực hiện nhằm nâng cao kỹ hành, .. đích năng dạy học. - Đảm bảo tất cả HS tham gia quá trình - Tập trung chủ yếu vào việc dạy, ít học tập, đồng thời nâng cao chất lượng quan tâm đến việc học của HS. Vì vậy, học tập của từng HS theo định hướng những HS gặp khó khăn trong học tập năng lực. không được GV giúp đỡ kịp thời. - Bài dạy minh hoạ do GV trong tổ thiết - Bài dạy minh họa được thiết kế theo kế. Khuyến khích linh hoạt sáng tạo, nội dung các chuyên đề được xác 2. Thiết không phụ thuộc máy móc vào quy định trong kế hoạch năm học của tổ kế bài trình, các bước dạy học trong SGK, SGV. hoặc theo yêu cầu của trường. dạy minh - Nhóm, tổ có thể điều chỉnh nội dung, - Bài dạy minh họa được thiết kế theo họa thời lượng, PPDH, KTDH, ... cho phù mẫu chung. Nội dung bài học bám sát hợp với yêu cầu tiết dạy và đối tượng SGK, sách GV. Ít khi dám thay đổi, HS.
  9. điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng- GV dạy có thể kinh hoạt thay đổi hình HS; thức, PPDH, KTDH. - PPDH máy móc, không linh hoạt Câu hỏi phát vấn thường đã có trước câu trả lời, ít có các phương án dự kiến tình huống xảy ra. - Khuyến khích tự nguyện nhưng đảm - Khi dạy minh họa, GV thường cố bảo tính luân phiên. gắng dạy hết các kiến thức trong bài, - Thay mặt nhóm thể hiện các ý tưởng tuân thủ thời gian, tập trung vào các đã thiết kế trong bài học. HS khá giỏi. Vì vậy, không báo quát - HS gặp khó khăn trong học tập được 3. Dạy lớp. Sau tiết dạy, GV không biết được GV hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời. minh họa suy nghĩ của HS. - Không được “dạy trước” vì mục đích - Đa số các tiết dạy minh họa thường của sinh hoạt chuyên môn không phải mang tính “biểu diễn - trình diễn”. dể đánh giá xếp loại tiết dạy mà chủ yếu là cùng nhau trải nghiệm và học tập từ thực tế. - Người dự giờ là GV các khối, các môn - Sự phân chia môn học và giảng dạy học để cùng chia sẻ kinh nghiệm dạy theo khối đã tạo ra sự ngăn cách giữahọc dựa trên thực tế học tập của HS các GV, khó có thể cùng hành động - Bố trí số lượng vừa phải, ở vị trí thuận hướng đến mục tiêu chung: giúp HS 4. Dự giờ lợi để quan sát, ghi chép, sử dụng các học tập. kĩ thuật, chụp ảnh, quay phim ... những - Mục đích cuối cùng của dự giờ là hành vi, tâm lí, thái độ của HS để có dữ đánh giá, xếp loại tiết dạy. Vì vậy, liệu phân tích việc học tập của HS. người dự giờ thường tập trung mọi sự
  10. chú ý theo dõi GV dạy, ít chú ý đến người học. - GV dạy minh họa chia sẻ mục tiêu bài - Các ý kiến phân tích, nhận xét sau học, những ý tưởng mới, những thay tiết dạy nhằm mục đích đánh giá xếp đổi, điều chỉnh, cách thức tiến hành, loại GV dạy. Thông thường người dự cảm nhận của mình qua quá trình dạy giờ sẽ dựa vào các tiêu chí đã quy bài học. định để nhận xét. Ý kiến nhận xét - Người dự giờ đưa ra các ý kiến nhận thường chung chung, ít có minh xét, góp ý về giờ học theo tinh thần trao chứng từ việc học của HS. đổi, chia sẻ, lắng nghe mang tính xây 5. Phân - GV dạy minh họa thường chỉ biết dựng; tập trung phân tích các vấn đề tích tiết lắng nghe một chiều từ các ý kiến liên quan đến việc học của HS. dạy minh đóng góp của đồng nghiệp. - Không đánh giá, xếp loại người dạy họa - Cuối cùng, người chủ trì chốt lại các (nếu kết quả không như mong muốn) ý kiến đóng góp và đưa ra ý kiến xếp thì xem đó là bài học chung để mỗi GV loại chung tiết dạy. tự rút kinh nghiệm. - Không khí buổi sinh hoạt chuyên - Người chủ trì tôn trọng và lắng nghe môn thường là nặng nề. Vì vây, GV tất cả ý kiến của GV, không áp đặt ý không hứng thú khi tham dự buổi kiến của mình hoặc của một nhóm sinh hoạt chuyên môn. người. Tóm tắt các vấn đề thảo luận và đưa ra các biện pháp cải tiến. a) Đối với học sinh. a) Đối với học sinh - Kết quả học tập ít được cải thiện vì - Kết quả của HS được cải thiện. 6. Kết GV chưa quan tâm nhiều đến HS mà quả - HS tự tin hơn, tham gia tích cực vào chỉ tập trung lo thực hiện giáo án. HS các hoạt động học, quan tâm hết các yếu kém ít được chú ý. đối tượng học sinh.
  11. - Một số tiết dạy minh họa được - Quan hệ giữa các HS trở nên thân chuẩn bị trước, HS chủ yếu là nên tiết thiện, gần gũi về khoảng cách kiến dạy không đúng thực chất làm cho HS thức. nhàm chán. b) Đối với giáo viên. b) Đối với giáo viên. - Chủ động sáng tạo, tìm ra các biện - Bị áp lực phải dạy để mọi người pháp để nâng cao chất lượng dạy và đánh giá năng lực của mình Vì vậy, GVhọc. phải bám sát những quy định của tiết - Tự nhận ra hạn chế của bản thân để dạy, không dám thay đổi cách dạy, ít điều chỉnh kịp thời. sáng tạo. - Quan tâm đến những khó khăn của - Nếu gặp phải những tình huống bất HS, đặc biệt là HS yếu, kém. ngờ, GV thường lúng túng. - Quan hệ giữa đồng nghiệp trở nên - Các PPDH mà GV sử dụng trong tiết gần gũi, cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ dạy thường mang tính hình thức. lẫn nhau. - Khi chia sẻ, phân tích tiết dạy (nếu có hạn chế), GV thường đổ lỗi cho HS c) Đối với cán bộ quản lí. hay những nguyên nhân khác. GV không thấy được nguyên nhân chính - Đặt học sinh lên hàng đầu, đánh giá là từ GV.. sự linh hoạt sáng tạo của của từng GV. - Việc chuẩn bị trước quá kỹ - Có cơ hội bám sát chuyên môn, hiểu nên Người dự giờ không học hỏi được nguyên nhân của những khó khăn được điều gì. trong quá trình dạy và học để có biện pháp hỗ trợ kịp thời. c) Đối với cán bộ quản lí. - Quan hệ giữa cán bộ quản lí và GV gần - Đa số áp đặt, máy móc, nên GV gũi, gắn bó và chia sẻ. không dám phát huy những ý tưởng sáng tạo.
  12. - Ít quan tâm để hiểu biết những tâm tư, nguyện vọng, khó khăn của GV d) Đối với tập thể sư phạm. trong quá trình dạy học. Vì, vậy, GV Tăng cường mối quan hệ học hỏi, lắng thường ngại tâm sự, chia sẻ với CBQL. nghe, cộng tác, đồng thuận, chia sẻ, ... - GV dạy phải thiết kế bài soạn theo hướng đến mục tiêu chung. Từ đó, chất mẫu chung, bám sát SGK, sách GV, ... lượng được nâng lên. Vì vậy, các GV thường chép giáo án lẫn nhau. Khi có dự giờ thì chuẩn bị kỹ, luyện tập trước cho HS, nếu bị phê bình thì đổ lỗi cho HS. Do đó, CBQL không phát hiện được những điểm yếu, điểm mạnh của từng GV để hỗ trợ. e. Kết quả: Từ việc coi trọng tập huấn, trao đổi để tổ trưởng chuyên môn và mọi giáo viên học tập, quán triệt, thành công bước đầu mà tôi nhận thấy đó là sự chuyển biến về mặt nhận thức, được trang bị lý luận soi đường, ắt hẳn việc thực hiện sẽ gặp nhiều thuận lợi. Tổ chức sinh hoạt chuyên môn: thảo luận vấn đề làm sáng tỏ các cách làm trong chuyên đề thao giảng. 3.2. Định hướng cho tổ trưởng thiết kế buổi sinh hoạt tổ chuyên môn: Với các trường vùng ven, không phải tổ trưởng chuyên môn nào cũng đáp ứng được các yếu tố về năng lực chuyên môn, năng lực điều hành, lãnh đạo, năng lực tổ chức các hoạt động chuyên môn; vì vậy, công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho tổ trưởng là hết sức quan trọng. Công việc này thuộc về trách nhiệm của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng. Về công tác này có phạm trù rất rộng; với một thời lượng, dung lượng bó hẹp trong sáng kiến này, tôi chỉ đề cập đến cách hỗ trợ cho tổ trưởng chuyên môn một số cách thức, thủ thuật điều hành, tổ chức một buổi sinh hoạt chuyên môn; có thể là một chuyên đề hoặc là tổ chức sinh hoạt nghiên cứu bài học theo chuyên đề thao giảng. 2.1. Thiết kế kịch bản buổi sinh hoạt tổ chuyên môn:
  13. Bước 1: Công tác chuẩn bị - Dự kiến nội dung công việc, tiến trình hoạt động. - Dự kiến những phương tiện, thiết bị cần cho hoạt động. - Dự kiến nhiệm vụ của từng thành viên và thời gian hoàn thành công việc. Bước 2: Điều hành buổi sinh hoạt chuyên đề - Lựa chọn thời gian và tiến hành đúng theo thời gian đã chọn. - TTCM điều hành buổi sinh hoạt chuyên đề: Xác định rõ mục tiêu buổi sinh hoạt, công bố chương trình, cách triển khai, định hướng thảo luận rõ ràng; nêu rõ nguyên tắc làm việc; khêu gợi các ý kiến phát biểu của đồng nghiệp; biết chẻ nhỏ vấn đề thảo luận bằng những câu hỏi dẫn dắt hợp lý; lắng nghe, tôn trọng các ý kiến phát biểu. - Các thành viên được phân công viết các chuyên đề báo cáo nội dung. Bước 3. Kết thúc buổi sinh hoạt chuyên đề - TTCM đánh giá những ưu điểm và tồn tại của chuyên đề, phương hướng triển khai vận dụng kết quả của chuyên đề trong thực tế giảng dạy. 2.1. Hướng tổ trưởng vào hoạt động thực tiễn: Tức là từ bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ cho tổ trưởng; cán bộ quản lý trực tiếp tham dự sinh hoạt chuyên môn do tổ trưởng chủ trì. Việc đồng hành chia sẻ cùng các tổ trưởng sẽ giúp họ tự tin, chủ động trong việc tổ chức tổ chuyên môn sinh hoạt theo chuyên đề. 2.1.3. Phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm điều hành: Khi cùng dự sinh hoạt cùng tổ chuyên môn, hiệu trưởng quan sát, ghi chép tiến trình, nội dung sinh hoạt một cách đầy đủ để góp ý cho tổ trưởng chính xác, cụ thể nhất. Điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải kiên trì; có phương pháp góp ý, tư vấn làm sao động viên, giúp đỡ tổ trưởng có thể tự tin điều hành tổ chuyên môn sinh hoạt. 3.3. Quy trình sinh hoạt tổ chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học: Trên cơ sở tổ trưởng chuyên môn đã có những kiến thức, kỹ năng điều hành sinh hoạt tổ chuyên môn, công việc tiếp theo là định hướng giúp tổ trưởng điều hành buổi sinh
  14. hoạt tổ chuyên môn theo xây dựng chuyên đề thao giảng gắn với nghiên cứu bài học. Để sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học có chất lượng ( xây dựng chuyên đề thao giảng), cần được thực hiện theo quy trình sau: 3.3. 1: Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu - Giáo viên cần xác định mục tiêu kiến thức và kỹ năng mà học sinh cần đạt được khi tiến hành nghiên cứu (theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn học), đảm bảo phù hợp với trình độ của HS, năng lực chuyên môn của GV. - Các GV trong tổ thảo luận chi tiết về thể loại bài học, nội dung bài học, các phương pháp, phương tiện dạy học đạt hiệu quả cao, cách tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của học sinh, cách rèn kỹ năng, hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn... Dự kiến những thuận lợi, khó khăn của HS khi tham gia các hoạt động học tập và các tình huống xảy ra và cách xử lý (nếu có) - Tổ trưởng chuyên môn giao cho giáo viên trong tổ (nhóm) soạn giáo án của bài học nghiên cứu, trao đổi với các thành viên trong tổ để chỉnh sửa lại giáo án theo chuyên đề đặt ra. Các thành viên khác có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch chi tiết cho việc quan sát và thảo luận sau khi tiến hành bài học nghiên cứu. 3.3.2. Tiến hành dạy minh họa và dự giờ - Sau khi hoàn thành giáo án của bài học nghiên cứu chi tiết, một GV sẽ dạy minh họa bài học nghiên cứu ở một lớp học cụ thể, các GV còn lại trong nhóm tiến hành dự giờ và ghi chép thu thập dữ kiện về bài học. - GV dự giờ phải đảm bảo nguyên tắc: + Không làm ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh; không gây khó khăn cho giáo viên dạy minh họa; khi dự giờ phải tập trung vào việc học của học sinh, cách phản ứng của học sinh trong giờ học, cách làm việc nhóm HS, những khó khăn vướng mắc, thái độ tình cảm của học sinh... Quan sát tất cả đối tượng học sinh, không được để quên một HS nào.
  15. + GV cần từ bỏ thói quen đánh giá giờ qua hoạt động của GV dạy, người dự cần học tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào vị trí của người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách giải quyết. + Luyện tập cách quan sát và suy nghĩ về việc học của HS trong giờ học, có khả năng phán đoán nhanh nhạy, chính xác để điều chỉnh việc dạy phù hợp, việc học của HS. + Thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cảm nhận của GV về HS trong từng hoàn cảnh khác nhau. + Hình thành thói quen lắng nghe lẫn nhau; rèn luyện cách chia sẻ ý kiến, từ đó hoàn thành mối quan hệ đồng nghiệp thân thiện, cộng tác và học tập lẫn nhau. 3.3.3. trao đổi, thảo luận về bài dạy thể hiện chuyên đề: Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt chuyên môn, là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của sinh hoạt chuyên môn. Tổ trưởng chuyên môn cần phát huy được vai trò, năng lực của người chủ trì, động viên toàn bộ giáo viên trong tổ tham gia đóng góp ý kiến cho bài dạy thể hiện. Cần nhấn mạnh những điểm nổi bật và không xếp loại giờ dạy theo các mức Giỏi, khá, TB, Yếu mà chỉ đánh giá xem bài dạy minh họa cho chuyên đề đạt hay không đạt mà thôi - Không nên phê phán đồng nghiệp bởi giờ dạy là sản phẩm chung của mọi người khi tham gia sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học. 3.3.4. Rút kinh nghiệm, áp dụng chuyên đề vào dạy học. Trên cơ sở BGMH giáo viên nghiên cứu vận dụng, kiểm nghiệm những vấn đề đã được dự giờ và thảo luận, suy ngẫm áp dụng vào bài học hàng ngày cho phù hợp, đạt hiệu quả tốt. * Về hồ sơ cần phải có trong sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học: 1. Biên bản phân công GV hoặc GV chuẩn bị chuyên đề và dạy minh họa. (Lưu cả trong sổ nghị quyết tổ và nghị quyết cá nhân) 2. Biên bản sinh hoạt tổ (nhóm) tham gia góp ý xây dựng chuyên đề và bài dạy. (Lưu
  16. cả trong sổ nghị quyết tổ và nghị quyết cá nhân) 3. Phiếu dự giờ. (Lưu cả trong sổ dự giờ của mọi thành viên) 4. Giáo án dạy thể hiện. 5. Biên bản sinh hoạt tổ (nhóm) rút kinh nghiệm giờ dạy và bài học kinh nghiệm (Lưu cả trong sổ nghị quyết tổ và nghị quyết cá nhân) * Minh họa xây dựng chuyên đề thao giảng theo hướng nghiên cứu bài học Ví dụ: Khi xây dựng chuyên đề: " Dạy bài ôn tập Tiêng Việt có hiệu quả" thì chuyên đề phải gọi tên và thực hiện những biện pháp, giải pháp sau đây để dạy học đạt mục tiêu. - Công tác chuẩn bị của thầy và trò: Hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức đã học của chương, phần...Để giờ học đạt hiệu quả, phải có sự hướng dẫn chuẩn bị bài từ tiết trước đó theo hướng vừa ôn lý thuyết kết hợp luyện tập, thực hành để khắc sâu kiến thức. - Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp đối tượng học sinh: Một tiết dạy- học thành công trước hết cần có thiết kế dạy học phù hợp, khoa học, chặt chẽ, lô gic. Để đạt được điều này, có nhiều yếu tố như sử dụng các phương pháp dạy học, các kỹ thuật, thủ pháp dạy học, các hình thức dạy hoc...Một trong những điều vừa liệt kê nói trên, việc sử dụng hệ thống câu hỏi trong phương pháp đàm thoại có một vai trò rất đặc biệt giúp khai thác kiến thức và rèn kỹ năng một cách hiệu quả. Vệc xây dựng hệ thống câu hỏi sao cho đối tượng khá giỏi trả lời những nội dung mang tính vận dụng, nâng cao. Đối tượng yếu kém là những nội dung ở mức nhận biết và vận dụng ở mức độ thấp vì trong một lớp học có rất nhiều đối tượng học sinh khác nhau: có học sinh khá giỏi, có học sinh trung bình, lại có những em học sinh yếu kém. Ví dụ: khi ôn tập phép từ Nhân hóa, học sinh yếu chỉ cần nhớ được khái niệm, đặt được câu có sử dụng phép tu từ này kiểu như: Bác trâu đang cày dưới ruộng, thì đối tượng học sinh khá giỏi phải biết sử dụng biện pháp này ở một tầm cao hơn như mức: Viết được một đoạn văn theo yêu cầu của giáo viên về thể loại, số câu... có sử dụng biện pháp tu từ Nhân hóa này. Có như vậy mới có thể tạo hứng thú học tập cho từng đối tượng, khiến em khá giỏi không nhàm chán với những câu hỏi vụn vặt; em yếu không cảm thấy quá sợ hãi trước những câu hỏi thầy cô
  17. đưa ra. Vì thế giờ học mới có đông đảo các em học sinh tham gia xây dựng bài một cách sôi nổi, hào hứng. - Tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả vào tiết dạy, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để tăng tính trực quan, thẩm mỹ và tiết kiệm được thời gian, công sức của thầy và trò. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây chính là sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lạm dụng hoặc sử dụng không khai thác tối đa đồ dùng dạy học mà giáo viên sử dụng. Vì thế cần xác định rõ ràng các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ đạt được khi khai thác từ đồ dùng trực quan để hướng dẫn học sinh các bước tiến hành: quan sát, trình bày, nhận xét, đánh giá vv... - Linh hoạt trong tổ chức dạy học: Nói đến linh hoạt trong tổ chức dạy học nghĩa là mỗi một môn học, kiểu bài, từng bài cụ thể có một cách tiếp cận riêng, không bài nào giống bài nào một cách rập khuôn. Một giờ học thành công đòi hỏi hai yếu tố: Định hướng, tổ chức linh hoạt của thầy và tích cực, chủ động, sáng tạo của trò. hai yếu tố này có mối quan hệ nhân quả rất rõ ràng: thầy linh hoạt, chủ động trong định hướng thì trò tự tin, mạnh dạn, hăng hái. Và ngược lại, việc trò tích cực, hăng hái, hào hứng học tập chứng minh cho việc thầy tổ chức dạy học có hiệu quả. - Rèn luyện kỹ năng trình bày bảng khoa học, hợp lý: Đây cũng là một khâu cần bàn đến khi thực hiện chuyên đề nói trên. Ghi bảng, trình bày bảng, lời nói, giọng giảng cũng là một dạng trực quan, phương tiện dạy học mà thiếu nó sẽ không đủ cho một giờ dạy học thành công. Một giờ Ôn tập có hiệu quả thì việc trình bày, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức là rất quan trọng. Tổ chuyên môn cần coi trọng những nội dung này trong sinh hoạt tổ chuyên môn của mình học tập lẫn nhau trong tổ chức dạy học. - Chú trọng việc hướng dẫn học tập ở nhà cho học sinh: Một tiết học của học sinh trên lớp gói gọn trong 45 phút, vì vậy để học nắm vững kiến thức, rèn kỹ năng thực hành, vận dụng không có con đường nào khác là phải chú trọng hướng dẫn học sinh học tập ở nhà. Công việc này thường thì do không còn thời gian nên nhiều khi giáo viên chỉ dặn dò qua loa đối với học sinh là về nhà học bài, làm bài. Còn học cái gì, làm cái gì và làm như thế nào thì các em lại không được hướng dẫn cụ thể nên kết quả là việc chuẩn
  18. bị bài ở nhà sơ sài, đến lớp chất lượng học tập không cao. Vì thế, các tổ chuyên môn khi tổ chức xây dựng chuyên đề cần chú trọng đến các khâu quan trọng cho một chuyên đề thành công. . Kết luận: Đây là phần cuối trong cấu trúc của một chuyên đề thao giảng. Nhiệm vụ của phần này như sau: - Phải tóm tắt được những công việc cơ bản nội dung chuyên đề đã xây dựng. - Dự báo khả năng khi thực hiện chuyên đề này vào giảng dạy sẽ mang lại Ví dụ 2: Chuyên đề thao giảng theo nghiên cứu bài học của Tổ Tổng hợp CHUYÊN ĐỀ THAO GIẢNG THÁNG 02/2016 Tên chuyên đề: " ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH” I. Lý do chọn chuyên đề: Thực chất của việc đổi mới phương pháp dạy học là "lấy học sinh làm trung tâm", dạy học hướng tới người học, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên... Nhận thấy hiệu quả thiết thực của phương pháp này đối với bộ môn Hóa học là rất cao và cần thiết. Tuy nhiên làm thế nào để thành công trong “Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực trong học tập của học sinh” tổ Tổng hợp xây dựng chuyên đề, tổ chức dạy thể hiện, rút kinh nghiệm để giáo viên áp dụng hiệu quả trong dạy học bộ môn. II. Thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học 1. Ưu điểm - Giáo viên được tham gia tập huấn “Đổi mới phương pháp dạy học”
  19. - Được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của chuyên môn nhà trường về việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng bộ môn. - GV được tham dự các buổi sinh hoạt chuyên môn do trường, ngành tổ chức. 2. Tồn tại - Học sinh chưa chủ động, tích cực tham gia các hoạt động. Hoạt động nhóm còn hình thức chưa hiệu quả. - Giáo viên còn lúng túng trong phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, việc đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả chưa cao. 3. Nguyên nhân - GV chưa có biện pháp gợi mở trong việc củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh, ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả chưa cao. - Chưa có biện pháp hình thành cho học sinh thói quen chủ động, tích cực tham gia các hoạt động tìm hiểu khai thác kiến thức trong tiết học. - Tổ chức hoạt động nhóm chưa đúng quy trình, chưa chú ý rèn cho học sinh kỹ năng thảo luận, chất vấn, biện luận, kết luận. Chưa linh hoạt trong xử lí các tình huống sư phạm III. Những biện pháp thực hiện 1. Việc nghiên cứu, tiếp thu chuyên đề - GV nghiên cứu chương trình dạy học, trao đổi thống nhất trong nhóm bộ môn, tổ chuyên môn về nội dung đổi mới phương pháp dạy học. - GV tham gia xây dựng chuyên đề, thiết kế biện pháp thực hiện hiệu quả các hình thức dạy học cho bài dạy thể hiện, trong dự giờ GV tập trung quan sát, theo dõi, nhận xét người học rút kinh nghiệm vận dụng vào dạy học. 2. Thực hiện trên lớp: - Bài thể hiện: NƯỚC (tt)
  20. - Tuần 28: Tiết 56 - Môn Hoá học - Lớp 8A - GV thể hiện: Lê Thị Lệ Thủy - Ngày thể hiện: Thứ hai ngày 21 tháng 3 năm 2016 2.1. Bài cũ: - GV ứng dụng CNTT tạo trò chơi giải ô chữ, gợi mở giúp HS trình bày nhanh một số kiến thức bài cũ liên kiến thức bài mới. - GV lần lượt nhấp vào từng nội dung trên ô chữ trong trò chơi đưa gợi mở về nội dung kiến thức cần kiểm tra để học sinh có cơ sở nhanh chóng trả lời bài cũ, qua từ khóa GV dẫn dắt vào bài mới. 2.2. Bài mới: Hoạt động 1: Tìm hiểu tính chất vật lý của nước * Mục tiêu: HS biết được trạng thái, màu, mùi, tính tan của nước. * Hướng thực hiện: - GV hướng dẫn HS mang đến lớp cốc nước, đường hoặc muối, thìa hoặc que khuấy, nước đá theo nhóm bàn (dặn dò cuối tiết học trước). - GV chuẩn bị ấm siêu tốc đun 1 ít nước ngay tại lớp. - GV hướng dẫn HS đọc mục I SGK, nhớ lại kiến thức môn Vật lý 7, quan sát cốc nước, nước đá, bỏ đường hoặc muối vào cốc nước khuấy đều, nước GV đun trong ấm. - Bằng câu hỏi gợi mở GV hướng dẫn để HS nêu được tính chất vật lý của nước. ? Em hãy cho biết tính chất vật lý của nước? (trường hợp HS chưa trả lời được GV gợi mở: Trạng thái, màu sắc, mùi vị của nước) - GV chủ động gọi đối tượng HS có lực học từ trung bình trở xuống trình bày tạo tình huống cho học sinh thảo luận, kết luận. Hoạt động 2: Tìm hiểu về tính chất hóa học của nước.