Đề thi thử tuyển sinh vào Lớp 10 môn Ngữ Văn Lớp 9 - Đề số 2 (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử tuyển sinh vào Lớp 10 môn Ngữ Văn Lớp 9 - Đề số 2 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_thu_tuyen_sinh_vao_lop_10_mon_ngu_van_lop_9_de_so_2_c.doc
Nội dung tài liệu: Đề thi thử tuyển sinh vào Lớp 10 môn Ngữ Văn Lớp 9 - Đề số 2 (Có đáp án)
- PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI THỬ TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 *** Môn: Ngữ văn 9 Thời gian làm bài: 120 phút, không kể giao đề (Đề thi gồm: 01 trang) Phần 1. Đọc hiểu (3 điểm) Cho đoạn văn: ... Anh hạ giọng, nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều: - Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kỹ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được ? Huống chi công việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất (Theo Ngữ văn 9, tập 1) Câu 1. Đoạn văn trên trích từ tác phẩm nào? Do ai sáng tác? Hoàn cảnh sáng tác? Lời tâm sự trong đoạn văn là lời của nhân vật nào ? Câu 2. Tìm trong đoạn văn các chi tiết thể hiện biện pháp tu từ nhân hóa và nêu tác dụng. Câu 3: Xác định ít nhất một phép liên kết được sử dụng trong đoạn văn và chỉ rõ từ ngữ thể hiện phép liên kết đó? Câu 4. Qua đoạn văn, em hãy chỉ ra những thay đổi trong suy nghĩ của nhân vật và lý giải tại sao lại có sự thay đổi đó ? Phần 2 . Làm văn Câu 1 (2,0 điểm) Từ đoạn trích ở phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn bàn về vai trò của lối sống có trách nhiệm. Câu 2 (5,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm - Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ? Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui (Trích ‘‘Bếp lửa’’- Bằng Việt , Ngữ văn 9- Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Tập 1) Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa ! ...........................Hết ............................. Họ và tên thí sinh:.....................................................Số báo danh:....................... Chữ kí của giám thị 1:..............................Chữ kí của giám thị 2:.........................
- PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO HƯỚNG DẪN CHẤM TẠO ĐỀ KHẢO SÁT NĂNG LỰC HỌC SINH Môn: Ngữ văn 9 A. YÊU CẦU CHUNG - Giám khảo cần nắm chắc hướng dẫn chấm để đánh giá thật chính xác, khách quan, đầy đủ kết quả làm bài của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm. Nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí. Trong quá trình chấm thi, cần vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm nhất là đối với những bài viết có cảm xúc và sáng tạo. - Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau nhưng đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho đủ điểm. - Điểm bài thi có thể lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn số. B. YÊU CẦU CỤ THỂ Phần 1- Đọc hiểu (3,0 điểm) Nội dung Điểm Câu 1a. - Đoạn văn trích từ văn bản: Lặng lẽ Sa Pa 0,25 - Tác giả: Nguyễn Thành Long. 0,25 - Truyện được sáng tác trong chuyến đi thực tế lên Lào Cai mùa hè 0,25 1970 của tác giả. - Lời tâm sự trong đoạn văn là lời tâm sự của nhân vật anh thanh 0,25 niên Câu 2 - Biện pháp tu từ nhân hóa (ngôi sao kia lẻ loi một mình, công việc là 0,25 đôi ) - Tác dụng: khiến sự vật trở nên gần gũi với con người. Nhấn mạnh vào mối quan hệ thân thiết, gần gũi của con người với công việc, làm 0,25 nổi bật tình yêu nghề, yêu công việc của anh thanh niên. Câu 3 -Phép lặp: cháu, công việc 0.5 - Phép nối: vả, huống chi (HS chỉ cần chỉ ra một phép liên kết) Câu 4 - Hồi chưa vào nghề khi những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kỹ mới 0,5 thấy một ngôi sao xa, anh nghĩ ngôi sao kia lẻ loi một mình. Khi làm nghề này, anh không nghĩ như vậy nữa. Tức là anh không còn cảm thấy cô đơn. - Vì anh đã tìm thấy niềm vui trong công việc, tìm thấy ý nghĩa công việc mình làm là phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Anh không 0,5 làm việc một mình, anh không cô đơn, vì công việc của anh gắn bó với bao anh em, đồng chí đang cùng anh chung lý tưởng. Phần 2: Làm văn Câu 1(2,0 điểm) a. Về kỹ năng - Biết cách thiết lập đoạn văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí. - Lập luận chặt chẽ.
- - Diễn đạt lưu loát, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. b. Về kiến thức Đoạn văn cần có các ý sau: Nội dung Điểm 1 *Mở đoạn: Từ đoạn trích ở phần đọc hiểu , dẫn dắt để giới thiệu 0,25 vấn đề *Thân đoạn - Sống có trách nhiệm là làm tròn nghĩa vụ, bổn phận với xã hội, trường 1,5 lớp, gia đình và bản thân. . . ; dám làm, dám chịu trách nhiệm về những hành động của bản thân. - Sống có trách nhiệm là biết hành xử đúng đắn, biết phân biệt phải trái, biết đối nhân xử thế, giữ lời hứa, dám làm dám chịu hậu quả. - Tích cực và tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, chủ động làm những việc cần làm, không né tránh hay thờ ơ hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. - Ý thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trên mọi cương vị, vị trí công việc. - Sống có trách nhiệm là một chuẩn mực để đánh giá nhân cách, sự trưởng thành của một người; Là một nét sống đẹp, là phẩm chất cần có của những người trẻ hiện đại. - Là hành động khẳng định giá trị bản thân, dấu hiệu cơ bản, quan trọng của việc hòa nhập với cộng đồng, giúp cho cuộc sống chung trở nên tốt đẹp hơn. - Sống có trách nhiệm giúp chúng ta ngày càng tốt đẹp, hoàn thiện bản thân mình hơn, được mọi người xung quanh yêu quý, kính trọng và giúp đỡ - Có được lòng tin của mọi người, thành công trong công việc và cuộc sống *Kết đoạn : - Sống có trách nhiệm là một lối sống đúng đắn cần phải được cổ động và thực hiện phổ biến trong cộng đồng. 0,25 - Mỗi con người cần phải sống có trách nhiệm để góp sức mình xây dựng quê hương, đất nước. - - Hãy sống có trách nhiệm với cuộc đời mình vì chính bạn là người sẽ đưa bạn tới nơi bạn mong muốn. - Liên hệ bản thân: Em sẽ học tập tốt để trở thành người có trách nhiệm. Câu 3 (5,0 điểm) a. Về kỹ năng
- - Biết cách làm kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ. - Kết hợp tốt các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh - Diễn đạt lưu loát, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. b. Về kiến thức Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần tập trung làm rõ các ý sau: Nội dung Điểm Mở Giới thiệu: khái quát về Tác giả Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa và về 0,5 bài đoạn thơ. 1.Khái quát về tác phẩm 0.25 - Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm 1963, khi tác giả 19 tuổi và đang học ngành Luật ở Liên Xô. Tác phẩm viết theo thể thơ tự do và được đưa vào tập thơ “Hương cây – Bếp lửa”, tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ. - Bằng sự kết hợp hài hòa giữa biểu cảm với tự sự, miêu tả và nghị luận, bài thơ đã xây dựng hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà và là điểm tựa khơi gợi mọi cảm xúc và suy nghĩ về tình bà cháu. 2. Cảm nhận đoạn thơ 2.1.Từ những suy nghĩ về bà, cháu bộc lộ tình yêu thương và biết ơn bà vô hạn 1.5 + Chất biểu cảm trữ tình vẫn còn nhưng đã dòng suy tưởng đã nhuốm màu nghị luận. “Lận đận” - từ láy gợi hình với hai thanh trắc đã diễn tả cả cuộc đời vất vả của bà, kết hợp với “biết mấy nắng mưa” - ẩn dụ để chỉ những thăng trầm của cuộc sống càng làm đậm thêm sự hy sinh Thân cần mẫn của bà. Trải qua tất cả những khó khăn, thách thức ấy, hình bài ảnh bà vẫn chưa bao giờ tách rời với bếp lửa. + “Mấy chục năm rồi”, lời thơ kể mà như đếm, gợi lên cả một tuổi thanh xuân, cả một đời người thức khuya dậy sớm gắn liền với khói bếp cay nồng. Ấy vậy mà trong “thói quen dậy sớm” ta cảm nhận được sự tần tảo, đức hy sinh vẫn nguyên vẹn như thuở nào. + “Nhóm”, “nhóm”, “nhóm”, “nhóm” – điệp ngữ ấy ngân lên, lan tỏa và khơi dậy biết bao yêu thương, biết bao rung cảm và xúc động trong lòng người đọc. Mỗi hình ảnh liệt kê trong mỗi câu thơ là cả một dòng suy ngẫm gợi lên trong cả tác giả lẫn độc giả. “Bếp lửa ấp iu nồng đượm” ở khổ một nay được lặp lại làm mạch cảm xúc được nối liền, ngân vang như một lời khẳng định về sự cần mẫn, khéo léo của bà. Chính tấm lòng nồng ấm đó đã “nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi” nuôi cháu trong những lúc thiếu thốn. Để từ đó, bà nhắc cháu rằng không bao giờ được quên những năm tháng nghĩa tình chia nhau từng củ khoai, củ sắn cho đỡ đói lòng. + Những năm tháng mà hai bà cháu sống trong sự đùm bọc, san sẻ cùng xóm làng với “nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”. Câu thơ như một lời răn dạy cháu hãy luôn sống chan hòa và biết nghĩ đến mọi người,
- đừng ích kỉ cho riêng mình. Chính những bài học thầm lặng và gắn liền với cuộc sống ấy đã rọi vào tâm hồn người cháu và thắp sáng những ước mơ, khát vọng. + Chính vì vậy mà tác giả đã thốt lên rằng “Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ” ? -> Bà không chỉ thấu hiểu cháu mà còn là tấm gương cho cháu noi theo. Ký ức tuổi thơ tuy không rõ ràng nhưng vẫn ghi dấu từng hình ảnh cụ thể “khoai sắn”, “xôi gạo” và tượng trưng “yêu thương”, “tâm tình” đan xen, quấn quít vào nhau giữa cuộc sống đời thường và giá trị tinh thần. Bà thì nhóm lửa còn Bằng Việt thì nhóm lên biết bao hoài niệm, khơi dậy bao đợt sóng yêu thương trong lòng người đọc. Hình ảnh người bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa, truyền niềm tin và sức sống cho người cháu. Người bà ấy giản dị nhưng lại có một sức mạnh kì diệu. Suốt dọc bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà – người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh + Để rồi từ đó nhà thơ thốt lên trong bao nhung nhớ và trân trọng : Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa ! + Câu thơ với từ cảm thán “ôi” như chất chứa, dồn nén biết bao 0.5 điều. Trong đó là sức mạnh “kì lạ” đã nhóm dậy cả một chân trời kỉ niệm, cả một tuổi thơ, cả một tâm hồn. Trong đó là sự “thiêng liêng” nhà thơ đã trân trọng gìn giữ trong tim nơi đất khách quê người. Ngay cả dấu gạch ngang cũng là một dấu lặng đầy nghệ thuật, là sự im lặng rất lạ, rất riêng giữa các từ, chứa đựng bao cảm xúc không thể diễn tả hết. Hãy lắng nghe sự im lặng đó để cảm nhận một lần nữa sự “kì lạ và thiêng liêng” kia, để thấu được tiếng lòng thi sĩ dội lại trong đó. Dấu gạch ấy như khoảng lặng trong bản nhạc để làm nền cho hai tiếng “bếp lửa” ngân lên diễn tả bao tâm tình, bao sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với bà. Đến đây, ta mới thực sự cảm nhận được toàn bộ vẻ đẹp của hình ảnh “bếp lửa”. Hình ảnh ấy cùng chất trữ tình kết hợp với bình luận đã trở thành cái nền hoàn hảo để mở ra dòng suy ngẫm của cả tác giả lẫn độc giả về cuộc đời tần tảo và nghĩa tình của bà. 2.3.Khi đi xa cháu không nguôi nhớ về bà 1.5 Để giờ đây, khi đang ở cách xa bà hàng nghìn dặm, Bằng Việt vẫn luôn hướng lòng mình về người bà yêu thương : Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở : - Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?... + Ở nước Nga xa xôi lạnh giá, bếp ga, bếp điện đã thay thế bếp củi nhem nhuốc khói, nhưng hình ảnh người bà và bếp lửa sớm mai vẫn đọng lại mãi trong tâm trí cháu. Bút pháp liệt kê và phép lặp cấu trúc “có trăm ” đã vẽ nên một chân trời bao la rộng lớn với biết bao điều vui tươi, mới mẻ. Thế nhưng cuộc sống hiện đại ấy vẫn không
- thể làm cháu nguôi đi nỗi nhớ đau đáu, thường trực về bà, một nỗi nhớ tới mức “chẳng lúc nào quên nhắc nhở”. + Người bà nói riêng hay người phụ nữ trong gia đình nói riêng luôn gắn với những gì gần gũi, thân thiết nhất. Họ giữ cho nhịp sống của tổ ấm được duy trì, là nơi bình yên cuối cùng để ta trở về sau những thăng trầm của cuộc đời. Trong dáng hình bình khiêm nhường quá đỗi ấy ẩn giấu một trái tim lớn đầy lòng nhân ái, để họ trở thành hiện thân của gia đình, quê hương, đất nước. + Nay ở nơi đất khách quê người, những câu thơ như hát ra từ ngọn lửa ấm nóng năm xưa của bà càng gợi nhắc để người đọc thấm thía điều đó. Niềm kính yêu và trân trọng đối với bà đã trở thành sự gắn bó với gia đình, tình yêu và nỗi nhớ quê hương, đất nước cũng như lòng biết ơn của Bằng Việt đối với cội nguồn che chở nơi ấy. Để mỗi ngày, mỗi giờ lòng ông đều vang lên một câu hỏi : “ Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?”. “Bếp lửa” đã thực sự trở thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng kì diệu theo nhà thơ suốt cả cuộc đời. 3.Đánh giá chung về nghệ thuật, nội dung của đoạn thơ Như vậy, bằng biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp ngữ và các từ ngữ, hình 0.25 ảnh chọn lọc, hai khổ thơ cuối của bài thơ “Bếp lửa” đã giúp ngươuif đọc cảm nhận được trọn vẹn những suy nghĩ của cháu về cuộc đời bà để từ đó bộc lộ nỗi nhớ thương bà da diết. Đọc những vẫn thơ ấy, ta nhận ra ở nhà thơ Bằng Việt là tình yêu thương, sự thấu hiểu và lòng biết ơn vô tận của nhà thơ đối với bà và cũng là đối với quê hương đất nước. Tình cảm ấy thật đáng trân trọng biết bao. Kết - Đánh giá chung về đoạn thơ 0,5 bài - Đoạn thơ khơi gợi trong em những tình cảm, trách nhiệm gì? Em học được bài học gì? Lưu ý: Học sinh có thể không tách riêng mà kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật nên khi chấm, giám khảo cần linh hoạt trong cách cho điểm.

