Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 12 - Tiết 16+17+18: Việt Bắc
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 12 - Tiết 16+17+18: Việt Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_mon_ngu_van_lop_12_tiet_161718_viet_bac.docx
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 12 - Tiết 16+17+18: Việt Bắc
- TUẦN 6 TIẾT 16,17,18 VIỆT BẮC Tố Hữu Phần một: Tác giả I. Vài nét về tiểu sử - Tố Hữu (1920- 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành - Quê quán: xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. - Cuộc đời: Thời thơ ấu: Tố Hữu sinh ra trong một gia đình Nho học ở Huế - mảnh đất thơ mộng, trữ tình còn lưu giữ nhiều nét văn hoá dân gian. Thời thanh niên: Tố Hữu sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thực dân Thời kỳ sau CM tháng Tám: Tố Hữu đảm nhiệm những cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hoá văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước. II. Đường cách mạng, đường thơ 1. Nhận xét chung: Những chặng đường thơ Tố Hữu gắn bó và phản ánh chân thực những chặng đường CM của dân tộc, những chặng đường vận động trong tư tưởng quan điểm và bản lĩnh nghệ thuật của nhà thơ 2. Những chặng đường thơ Tố Hữu Từ ấy: (1937- 1946) - Niềm hân hoan của tâm hồn trẻ đang gặp ánh sáng lý tưởng cách mạng, tìm thấy lẽ sống và quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng. - Gồm có 3 phần: a. Máu lửa b. Xiềng xích c. Giải phóng Việt Bắc: (1946- 1954) Bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp của dân ttộc Gió lộng: (1955- 1961) Niềm vui lớn trước cuộc sống mới, con người mới và tình cảm sâu nặng với miền nam ruột thịt.
- Ra trận (1962- 1971), Máu và hoa (1972- 1977): Viết về cuộc khán chiến chống Mĩ hào hùng của dân tộc Một tiếng đờn (1992 ), Ta với ta (1999): Đánh dấu bước chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu sau hoà bình Từ cái Tôi - chiến sĩ -> cái Tôi – công dân càng về sau là cái Tôi nhân danh dân tộc, cách mạng. II. Phong cách thơ Tố Hữu a. Về nội dung: Thơ Tố Hữu mang phong cách trữ tình chính trị sâu sắc. - Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung - Trong việc miêu tả đời sống, thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi. - Những điều đó được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình, tự nhiên, đằm thắm, chân thành b. Về nghệ thuật: Thơ Tố Hữu mang phong cách dân tộc đậm đà - Về thể thơ: + Vận dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc + Thể thất ngôn trang trọng mà tự nhiên - Về ngôn ngữ: Dùng từ ngữ và cách nói dân gian, phát huy tính nhạc phong phú của tiếng Việt. IV. Kết luận Thơ Tố Hữu là bằng chứng sinh động về sự kết hợp hài hoà hai yếu tố cách mạng và dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo thi ca. PHẦN II TÁC PHẨM I.Tìm hiểu chung: 1.Hòan cảnh sáng tác: Bài thơ ra đời vào tháng 10/1954, nhân sự kiện những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và chính Phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô. 2.Kết cấu
- Theo lối hát đối đáp giao duyên quen thuộc của ca dao dân ca, cách xưng hô “mình-ta”để tạo sự thân thiết gần gũi, nhạc điệu lục bát ngọt ngào mang âm hưởng êm ái như lời ru, đưa người đọc vào thế giới đằm thắm ân tình. II.Đọc-hiểu văn bản: 1.Khung cảnh chia tay và tâm trạng con người a. 4 câu thơ đầu: lời ướm hỏi của người ở lại. – Cách xưng hô mình – ta + Gợi nghĩa tình thân thiết, gắn bó + Là cách gọi quen thuộc trong ca dao dân ca. -> tạo không khí trữ tình cảm xúc. – “Mười lăm năm ấy”: thời gian Việt Bắc và những người cách mạng gắn bó đầy kỉ niệm yêu thương. - “Mình về nguồn” câu hỏi tu từ + hình ảnh ẩn dụ “cây – núi, sông – nguồn”-> tình cảm hướng về Việt Bắc- cội nguồn của cách mạng – Điệp từ “nhớ”: nhấn mạnh nỗi nhớ sâu sắc, thường trực, da diết. =>Người ở lại thiết tha, luyến tiếc, khơi gợi trong lòng người ra đi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình. b. 4 câu tiếp: Tiếng lòng người về xuôi: Bâng khuâng, lưu luyến – Từ láy: tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn -> người ra đi lưu luyến, bịn rịn. – Hình ảnh hoán dụ: “áo chàm” -> người dân Việt Bắc. – Hành động: cầm tay-> sự luyến tiếc và nghĩa tình keo sơn gắn bó giữa những người cách mạng và Việt Bắc, gợi nhớ những cuộc chia tay trong văn học trung đại (nhưng đây là cuộc chia tay trong niềm vui chiến thắng). 2. Nỗi nhớ Việt Bắc a. 12 câu tiếp “Mình đi cây đa”: Mượn lời người ở lại - Tác giả gợi những kỉ niệm về Việt Bắc trong những năm kháng chiến. – Hình ảnh: suối lũ, mây mù, miếng cơm chấm muối ->Đây là những hình ảnh rất thực gợi được sự gian khổ của cuộc kháng chiến, vừa cụ thể hoá mối thù của cách mạng đối với thực dân Pháp. – Chi tiết “Trám bùi .để già” -> diễn tả cảm giác trống vắng gợi nhớ quá khứ sâu
- nặng. Tác giả mượn cái thừa để nói cái thiếu. – “Hắt hiu lòng son” -> phép đối gợi nhớ đến mái tranh nghèo. Họ là những người nghèo nhưng giàu tình nghĩa, son sắt, thuỷ chung với cách mạng. – 6 câu hỏi tu từ lặp đi lặp lại là câu hỏi đau đáu, khơi gợi, nhắc nhớ mọi người hãy luôn nhớ về Việt Bắc (VB). – Địa danh: mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào gắn liền với VB. – Phép điệp: mình đi , mình về , nhớ -> lời nhắn gửi tha thiết, nhắc nhớ những kỉ niệm về một thời ở VB. – “Mình đi, mình có nhớ mình“ -> ý thơ đa nghĩa một cách thú vị. Cả kẻ ở, người đi đều gói gọn trong chữ “mình” tha thiết. Mình là một mà cũng là hai, là hai nhưng cũng là một bởi sự gắn kết của cách mạng, của kháng chiến. Chân dung một Việt Bắc gian nan mà nghĩa tình , thơ mộng, rất đỗi hào hùng trong nỗi nhớ của người ra đi. b. Lời của người ra đi (70 câu sau) * 4 câu đầu “Ta với bấy nhiêu ”: Khẳng định tình nghĩa thủy chung son sắt. – Đại từ mình – ta: được sử dụng linh hoạt -> tạo sự hòa quyện, gắn bó máu thịt; – Giọng điệu: tha thiết như một lời thề thủy chung son sắt. – Từ láy: mặn mà, đinh ninh : Khẳng định nghĩa tình đậm đà, bền chặt, trước sau như một của cách mạng đối với VB. – So sánh: bao nhiêu bấy nhiêu : gợi tình cảm bao la, chan chứa giữa cách mạng và VB. *. “Nhớ gì thuỷ chung ”: nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng và cuộc sống con người ở VB. (28 câu tiếp ) ** 18 câu tiếp “Nhớ gì suối xa ”: Nỗi nhớ về cuộc sống ở VB. – Biện pháp so sánh: “nhớ người yêu” -> So sánh nỗi nhớ VB với nỗi nhớ người yêu, sắc thái cao nhất của nỗi nhớ. – Phép tiểu đối: “Trăng lên đầu núi / nắng chiều lưng nương” -> nỗi nhớ từ đêm sang ngày, bao trùm cả không gian lẫn thời gian. “Bát cơm sẻ nửa / chăn sui đắp cùng” -> hình ảnh cảm động cho thấy sự san sẻ khó khăn gian khổ, chia sớt ngọt
- bùi, đắng cay giữa người dân VB và những người cách mạng. – Phép điệp: nhớ, nhớ từng , nhớ sao -> nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, sâu sắc. – Hình ảnh: người thương đi về, người mẹ nắng cháy lưng, những hình ảnh thân thương, cảm động về con người VB. – Những kỉ niệm: đắng cay ngọt bùi, bát cơm sẻ nửa, những giờ liên hoan, -> những kỉ niệm đẹp về tình quân dân gắn bó như trong một gia đình. Con người và cuộc sống VB: nghèo cực, lam lũ mà thủy chung, son sắt. Thiên nhiên, núi rừng, cuộc sống và con người ở VB luôn in đậm trong tâm trí những người về xuôi => tình cảm chân thành, tha thiết của người cán bộ kháng chiến. ** 10 câu sau “Ta về thuỷ chung”: Nỗi nhớ về bức tranh tứ bình của VB. Bộ tranh tứ bình – Cảnh thiên nhiên và con người hòa quyện thắm thiết: +“Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người” Câu hỏi tu từ-là cái cớ để người ra đi bày tỏ lòng mình. Hình ảnh “hoa cùng người” gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người trong bức tranh quê hương Việt Bắc. +Tám câu thơ tiếp theo diễn tả cụ thể nỗi nhớ: Thiên nhiên Việt Bắc được miêu tả diễn tiến theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc trưng riêng • Vào mùa đông “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Trên cái màu xanh bạt ngàn của núi rừng xuất hiện những bông hoa chuối “đỏ tươi” như ngọn lửa thắp sáng rừng xanh- xua đi cái lạnh lẽo của mùa đông vùng cao. Hình ảnh “dao gài thắt lưng”-Phản quang ánh nắng tạo thành điểm sáng khiến con người trở nên nổi bật. • Mùa xuân đến “Ngày xuân mơ nở trắng rừng
- Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Chữ “trắng” gợi lên sự tinh khiết, mênh mang, một thế giới hoa mơ bao phủ. Sức xuân tràn ngập núi rừng Việt Bắc. Động từ “ chuốt”gợi lên sự khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ của người Việt Bắc. • Việt Bắc vào hạ tràn ngập tiếng ve và sắc vàng rực rỡ của rừng phách cùng hình ảnh người thiếu nữ đi “hái măng một mình”. • Mùa thu Việt Bắc thật nên thơ “ Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Gợi lên cuộc sống thanh bình yên ả, con người Việt Bắc luôn lạc quan và khúc hát ân tình thủy chung sẽ ngân vang mãi trong lòng người đi kẻ ở. – Phép điệp: ta về, ta nhớ, nhớ, – Đại từ xưng hô: mình – ta – Nhịp điệu đều đặn, cân xứng, nhịp nhàng – Giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, lời thơ giàu nhạc điệu, Mỗi mùa mỗi cảnh, đều mang vẻ đẹp riêng trong vẻ đẹp chung: đó là sự hài hòa giữa màu sắc và âm thanh, giữa người và cảnh, cảnh và người cùng làm cho nhau thêm đẹp, làm cho bức tranh thêm sinh động. Thiên nhiên cảnh vật quen thuộc, bình dị, gần gũi nhưng rất thơ mộng, trữ tình -> nỗi nhớ sâu sắc của người cán bộ cách mạng về VB *. 22 câu tiếp “Nhớ khi núi Hồng”: Nhớ cuộc kháng chiến anh hùng ở VB. ** 10 câu đầu “Nhớ khi Nhị Hà ”: Thiên nhiên cùng con người sát cánh đánh giặc. – Phép điệp: nhớ gắn với những kỉ niệm trong những ngày VB kề vai sát cánh cùng với cách mạng trong chiến đấu. – Biện pháp nhân hóa: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, biến thiên nhiên thành một lực lượng kháng chiến, thể hiện tình đoàn kết đặc biệt giữa thiên nhiên và con người VB đối với cách mạng, khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Rừng mang tính chất của con người VN quả cảm và biết phân biệt địch – ta, Tác giả nhìn thiên nhiên xuất phát từ lòng yêu nước gắn với yêu cách mạng.
- – Câu hỏi tu từ: hỏi để khẳng định nỗi nhớ thường trực, sâu sắc về những địa danh gắn liền với VB. – Từ chỉ địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng, -> thân thuộc, gắn liền với VB. ** 12 câu sau “Những đường núi Hồng”: Khung cảnh hùng tráng của VB trong những ngày ra quân sôi động làm nên chiến thắng. – 8 câu đầu: khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở VB: + Các động từ mạnh: rầm rập, rung, bật-> tạo thành những chuyển rung dữ dội, thể hiện sức mạnh vô địch của cuộc kháng chiến. + Các từ láy: điệp điệp, trùng trùng-> khí thế mạnh mẽ không gì có thể ngăn cản nổi. + Biện pháp cường điệu: Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay-> sức mạnh của thời đại, của ý chí tiêu diệt giặc, của tinh thần đoàn kết có thể làm nên những điều tưởng chừng không thể. + Nhịp điệu: dồn dập, mạnh mẽ như những bước hành quân của quân dân VB, thể hiện khí thế ra trận của cả một dân tộc trong trận chiến quyết định với kẻ thù. – 4 câu sau: khí thế chiến thắng ở các chiến trường khác: + Phép điệp: “vui”, “vui + lên/về ” + Liệt kê: các địa danh ( ) + Giọng điệu thơ: hồ hởi, vui tươi niềm vui to lớn, rộng khắp của cuộc kháng chiến. VB anh hùng trong kháng chiến, trở thành điểm đến của tất cả các cánh quân, của ý chí Việt Nam để tạo nên một cuộc đụng đầu lịch sử, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. *. 16 câu cuối: Nhớ VB, nhớ cuộc kháng chiến, nhớ quê hương cách mạng của người VN. – Câu hỏi tu từ: khơi gợi tình cảm thiêng liêng về VB. – Các hình ảnh: ngọn cờ đỏ thắm, sao vàng rực rỡ, cụ Hồ sáng soi, Trung ương, Chính phủ, mái đình, cây đa, -> những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng thể hiện cái nhìn lạc quan của tác giả. Đó là những hình ảnh biểu tượng của cách mạng, là tương lai của dân tộc.
- – Phép điệp: Ở đâu Nhìn lên , Ở đâu Trông về -> nhấn mạnh: VB là cái nôi của cách mạng, là cội nguồn của sự sống. – Biện pháp đối lập: u ám > đề cao vai trò của lãnh tụ HCM. Bác chính là chỗ dựa tinh thần tươi sáng nhất cho cách mạng và nhân dân Việt Nam. – Cách xưng hô mình – ta III.Tổng kết: 1Nghệ thuật Bài thơ đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu: thơ lục bát ,lối đối đáp, cách xưng hô mình –ta, ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi.. 2.Ý nghĩa văn bản Bản hùng ca về cuộc kháng chiến đồng thời là bản tình ca về tình nghĩa cách mạng và kháng chiến.

