Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 12 - Bài 1 đến 12
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 12 - Bài 1 đến 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_mon_ngu_van_lop_12_bai_1_den_12.docx
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập môn Ngữ Văn Lớp 12 - Bài 1 đến 12
- BÀI 1: VỢ CHỒNG A PHỦ - Tô Hoài - ĐỀ 1: Mở đầu truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài viết: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy một cô con gái ngồi quay sợi gay bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta nói : nhà Pá Tra làm thống lí, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn. Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái nhà Pá Tra: cô ấy là vợ A Sử, con trai nhà thống lí Pá Tra”. Kết thúc truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài viết: “Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt: – A Phủ cho tôi đi. A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói: – Ở đây thì chết mất. A Phủ chợt hiểu. Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình. A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”. (Trích Vợ chồng A Phủ, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam 2020, tr. 4) Cảm nhận đặc sắc hai đoạn văn trên, từ đó đưa ra nhận xét về giá trị nhân đạo mà Tô Hoài gửi gắm thông qua tác phẩm. (Lưu ý: đề có thể ra một trong hai đoạn. HS xác định chuẩn vấn đề để làm trúng) I. Mở bài Hình như mỗi nhà văn đều “mang nợ” với một miền đất, một miền đời trong không gian muôn trùng đất dài sông rộng. Tô Hoài cũng vậy! Với ông, Tây Bắc chính là “món nợ ân tình” mà ông phải trả cho đồng bào nơi đây. Đất Tây Bắc “để thương để nhớ” cho Tô Hoài nhiều quá, làm sao ông có thể quên cho được hình ảnh vợ chồng A Phủ tháng năm nào chìm khuất trong bóng đêm của chế độ phong kiến miền núi tàn độc, áp bức, bóc lột, chà đạp con người. Bằng vốn hiểu biết phong phú về tập quán, phong tục miền cao Tây Bắc, “Vợ chồng A Phủ” ra đời. Tác phẩm là câu chuyện về những người lao động vùng cao Tây Bắc không cam chịu bọn thực dân, chúa đất áp bức, đày đạo, giam hãm trong cuộc sống tăm tối đã vùng lên phản kháng, đi tìm cuộc sống tự do. Trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (trích trong tập Truyện Tây Bắc), Tô Hoài đã có cách mở đầu và kết thúc phần trích độc đáo và đầy dụng ý, từ đó ngầm gửi gắm tư tưởng nhân đạo sâu xa. II. Thân bài 1. Khái quát vài nét về tác phẩm Tô Hoài từng tâm sự: “Tôi xem vài bài giảng về tác phẩm này, nhưng có lẽ các thầy giáo đã quá chăn chú đến nội dung tố cáo xã hội và giải phóng phụ nữ. Theo tôi giảng tác phẩm này là phải chú trọng đặc biệt đến nhân vật Mị, số phận của cô là sự hồi sinh mãnh liệt của con người cô. Sự hồi sinh của một con người là vô cùng quý”. Tuy chỉ là một truyện ngắn, song dường như đây là một tiểu thuyết thu nhỏ viết về những chuỗi ngày khổ đau lẫn hạnh phúc trong cuộc đời cô Mị. Truyện “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn hiện thực thấm đẫm tinh thần nhân đạo, chan chứa tấm lòng của một nhà văn nặng tình với đất và người trên quê hương Tây Bắc. 2. Phân tích hai đoạn trích 1
- Một tác phẩm nghệ thuật hay phải thực sự hấp dẫn ngay từ phần mở đầu và có một kết thúc ấn tượng để lại dư vang trong tâm hồn người đọc. Khác với văn xuôi Việt Nam trước năm 1945, các tác phẩm viết sau Cách mạng tháng Tám chú trọng việc tạo dựng một nguồn năng lượng tích cực, hướng người đọc đến một cuộc sống mới, đến ánh sáng và niềm tin chứ không mãi đắm chìm trong tối tăm ô nhục. “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài cũng tương tự như thế! Đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc phần trích thực sự đặc sắc, góp phần thể hiện tư tưởng nhân văn sâu rộng của Tô Hoài. a. Đoạn trích thứ 1 Mở đầu truyện ngắn, Tô Hoài sử dụng giọng văn trầm buồn nhưng đầy ám ảnh để đưa người đọc vào thế giới Tây Bắc trước ngày giải phóng. Như một câu chuyện cổ tích từ thuở nào đó xa xưa lắm, Tây Bắc hiện ra với hai giai cấp đối lập nhau: một bên là thống lí Pá Tra (giai cấp thống trị), một bên là “cô con gái” tên Mị (giai cấp bị trị) đang sống lầm lũi, buồn tủi trong căn nhà sang giàu nhưng độc ác, bất lương. Có thể nói nhân vật Mị thật sự trĩu nặng tâm can người đọc ngay từ đoạn văn này. Lòng dạ sắt đá bao nhiêu cũng phải xốn xang, xúc động se lòng trước một cô Mị tội nghiệp, đang kéo lê cuộc đời của mình, đang vùi chôn tuổi trẻ của mình trong căn nhà của thống lí Pá Tra, nơi tối tăm, tàn nhẫn chẳng khác nào chốn ngục thất trần gian. Chỉ với câu văn mở đầu tác phẩm, Tô Hoài đã gợi ra những ấn tượng ban đầu về cô Mị: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”. Đàn bà con gái Tây Bắc “ngồi quay sợi gai” thôi thì có gì đâu phải nói đến, đó chỉ là công việc thường nhật của người phụ nữ miền sơn cước, làm để ăn, để thay đổi cuộc đời khốn khó nghèo nàn. Nhưng không, một nhà văn sâu sắc và đầy tâm huyết như Tô Hoài không bao giờ chấp nhận viết ra những điều bình thường, giản đơn đến vậy. Tô Hoài viết tiếp: “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi gai, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Người con gái Tây Bắc đâu chỉ làm chỉ làm những công việc nhẹ nhàng như “quay sợi gai”, dưới sự áp bức, bóc lột tàn nhẫn của bọn thực dân, chúa đất, người con gái Tây Bắc phải làm những công việc nặng nhọc mà lẽ ra những việc ấy phải do đàn ông sức dài vai rộng gánh gồng. Trong nhà thống lí Pá Tra, Mị chẳng những “quay sợi gai, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi”, mà còn “cõng nước dưới khe suối lên”. “Cõng nước”, hai tiếng ấy gợi ra cái tư thế khom lưng cúi người cõng ống nước to và nặng trên lưng. Phải chăng công việc này đã khiến bờ lưng người đàn bà ngày càng còng xuống, dáng đi lom khom, vì thế mà “lúc nào cũng cúi mặt”. Song, ám ảnh nhất trong đoạn văn này có lẽ là khuôn mặt “buồn rười rượi” của cô Mị. Chi tiết “mặt buồn rười rượi” có giá rất đắt trong việc gợi tả thân phận, cuộc đời tủi buồn, khốn khổ của Mị. Xuyên suốt truyện ngắn, người đọc vẫn thường bắt gặp những hình ảnh: “buồn rười rượi”, “Mị cúi mặt”, “Mị càng không nói”, “lùi lũi”, “Mị bưng mặt khóc” Cớ gì một người con gái xuân sắc lại phải buồn, phải tủi, phải lặng im đến thế? Phải rồi, thật chất Mị “không phải là con gái nhà Pá Tra”, mà là “vợ A Sử, con trai nhà thống lí Pá Tra”. Một cuộc hôn nhân ép buộc theo phong tục lạc hậu của người Mông thuở ấy dồn Mị vào tình cảnh trớ trêu. Vì nghèo, vì món nợ truyền kiếp, Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra. Chế độ phong kiến miền núi hà khắc, độc ác hơn cả chế độ phong kiến miền xuôi một thời được miêu tả cụ thể trong các tác phẩm của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng bóc lột sức lao động, áp chế tinh thần, khống chế sự tự do của người con gái. Đây là hiện thực ngột ngạt, đen ngòm của xã hội Tây Bắc trước ngày giải phóng. Tô Hoài đã miêu tả thật chân thật, xót xa. Tóm lại, ngay từ đoạn văn mở đầu, hình ảnh Mị hiện ra thật tội nghiệp. Một số phận bất hạnh. Một đoạn đời ô nhục, u buồn. Ngôn ngữ dẫn chuyện của Tô Hoài giàu chất thơ, chất nhạc, mang đặc trưng của chốn núi non, rừng thẳm, song man mác buồn như cái buồn của cuộc đời cô Mị. b. Đoạn trích thứ 2 Với tấm lòng nhân đạo cao cả, nhà văn đã không nhấn chìm Mị trong tăm tối, khổ đau. Bằng những cách khác nhau, nhà văn đã vực dậy sức sống vốn dĩ rất tiềm tàng và mãnh liệt bên trong “con rùa lùi lũi” kia. Đoạn kết phần trích “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã để cho khát vọng sống của cô gái khốn khổ này 2
- dâng lên cao trào. Khát vọng biến thành hành động cụ thể, Mị đã dũng cảm cắt dây trói cứu A Phủ và chạy trốn cùng A Phủ đến Phiềng Sa, bắt đầu một cuộc sống mới. Không gian nghệ thuật của đoạn văn là mùa đông giá rét. Mùa đông vùng cao se sắt thịt da, lạnh buốt, “dài và buồn” như cái buồn của cuộc đời cô Mị. Thời gian nghệ thuật của đoạn văn là đêm khuya, lúc mà Mị ra thổi lửa hơ bụng, hơ tay, trông thấy “dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã sạm đen lại của A Phủ”. Thương mình năm xưa cũng bị trói như vậy, cũng đớn đau, khốn khổ như vậy, Mị chuyển sang thương người. Cao trào của xúc cảm chính là hành động cắt dây trói cứu A Phủ. “Mị đứng lặng trong bóng tối”, câu văn gợi lên nhiều điều sâu xa. “Bóng tối” ở đây là bóng tối của đêm đông vùng cao, nhưng phải chăng cũng là bóng tối của xã hội phong kiến – thực dân đang đày đọa, giam hãm con người? Dường như là thế. Đã bao lần Mị đứng trong bóng tối? Chắc là nhiều lần lắm không sao đếm xuể. Cuộc đời Mị từ khi trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra đã trượt dài trong bóng tối còn gì. Trong đêm xuân năm nào Mị bị trói, Mị cũng đứng trong bóng tối. Trong đêm đông năm nay, Mị cũng “đứng lặng trong bóng tối”. Mị “đứng lặng” nhưng trong đầu ngổn ngang những suy nghĩ, “đứng lặng” mà lòng dạ không hề tĩnh lặng. Đi hay không? Dường như Mị vẫn đang mơ màng nghĩ về “thần quyền” bao nhiêu năm trói buộc Mị ở nhà thống lí. Dường như Mị đang nghĩ nếu ở lại thì gia đình thống lí sẽ trói Mị vào cái cọc ấy thế mạng cho A Phủ (vì chính Mị đã cắt dây trói cứu anh). Và, dường như Mị cũng đang mơ màng hỏi lòng: đi đâu, rồi cuộc đời có được sung sướng, hạnh phúc hơn hay không? Mọi “dường như” đều chỉ là phỏng đoán. Song, một sự phỏng đoán đầy logic, xuôi theo tâm trạng và sự hồi sinh dần dần của cô Mị. Cuối cùng, “Mị cũng vụt chạy ra”. Tô Hoài đã nhắc đến tiếng “chạy” nhiều lần: “vụt chạy”, “chạy, chạy xuống tới lưng dốc”, “lao chạy xuống dốc núi”. Hành động này mang nhiều ý nghĩa. “Chạy” là để thoát khỏi căn nhà tàn độc với những cách trị người tàn bạo, ghê rợn. “Chạy” để giải thoát chính bản thân mình, bằng tâm thế của một người đàn bà chủ động phá bỏ cái rào cản ngăn cách mình với sự tự do, cái rào cản bao năm khung người đàn bà trong cuộc sống tăm tối, trong môi trường bào mòn khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, khiến Mị đánh mất chính mình. “A Phủ cho tôi đi”, câu nói gấp ráp trong hơi gió thốc, chưa để cho A Phủ đáp lại, Mị nói tiếp: “Ở đây thì chết mất”. Phút giây này Mị đã nhận ra nguyên nhân của nỗi khổ mà mình chịu đựng bao nhiêu năm qua. Thống lí Pá Tra và thế lực phong kiến đã hủy hoại thanh xuân, hạnh phúc và tâm hồn của cô Mị xinh đẹp năm nào. Những ngày ở nhà thống lí, sống chẳng qua chỉ là sự tồn tại sinh học, còn tâm hồn Mị đã héo hắt từ lúc nào không hay. Mị đã thấm thía ra nỗi cơ khổ, bĩ cực của chính mình. Điều Mị nhận lại lúc này chính là sự đồng cảm từ A Phủ. Một “người đàn bà chê chồng” đã sẵn sàng chạy theo A Phủ dù chưa biết được đoạn đường phía trước sẽ ra sao, tươi sáng hay tăm tối. Nhưng Mị vẫn đi. Vì sao? Bởi “Hạnh phúc là đấu tranh” chứ không phải là hành trình may rủi, nếu không biết vực dậy mà sống tiếp, mà giải thoát thì sẽ chìm trong những vô vị, nhạt nhẽo và đau đớn của cuộc đời. A Phủ cho Mị đi theo, phải chăng vì A Phủ cảm cái tấm lòng của người đàn bà sẵn sàng cắt dây cởi trói cho người xa lạ trong đêm giá rét? Trong giây phút sinh tử này không ai nghĩ được gì nhiều, sự sống chính là cái đích trước mắt để họ nỗ lực bước tiếp. Vì thế, “hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”. Sự phản kháng của Mị lúc này thật táo bạo, nó đã thành hành động cụ thể. Mị giải thoát số phận cho mình và cho A Phủ. Sự phản kháng mạnh mẽ trong Mị đi từ tự phát đến tự giác. Nhịp điệu câu văn gấp rút, nhanh như nhịp thở, nhanh như hành động chạy đi để thoát khỏi vòng kìm cặp độc địa. Ngôn từ gần gũi như lời ăn tiếng nói người dân lao động khổ nghèo. Tô Hoài đã kết thúc phần trích đặc sắc, gợi lại niềm tin, hi vọng sống, ánh sáng của hạnh phúc le lói trước mắt người đọc. 3. Nhận xét giá trị nhân đạo mà tác giả muốn gửi gắm. 3
- Mị điển hình cho tình trạng con người bị mất đi quyền sống. Rõ ràng, tiếng nói của chế độ phong kiến đã được cất lên nhân danh quyền sống. Cái chế độ ấy thật đáng lên án bởi nó không chỉ cướp đi quyền sống của con người, đày đọa con người mà còn làm cạn khô nhựa sống, làm lụi tắt ngọn lửa sống, niềm vui sống của những con người vô cùng đáng sống. Qua hai đoạn văn, ta thấy được những nét đặc sắc trong tư tưởng của tác phẩm: Miêu tả nỗi thống khổ, thân phân đau đớn của nhân vật và tội ác của cường quyền. Ngợi ca sức sống tiềm tàng của nhân vật, quá trình vùng lên của con người nơi vùng cao Tây Bắc. Tô Hoài đã miêu tả chân thật, sinh động chi tiết ấy bằng bút phát hiện thực, phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, lối kể chuyện hấp dẫn và ngôn ngữ đầy tính tạo hình. “Vợ chồng A Phủ” vừa là thành tựu tương đối hiếm hoi của văn xuôi kháng chiến, vừa ghi dấu sự trưởng thành của ngòi bút Tô Hoài trong sự chiếm lĩnh mảng đề tài miền núi, một đề tài tới nay vẫn còn nhiều mới lạ với bạn đọc. Truyện được tổ chức chặt chẽ, dẫn dắt rất dung dị, tự nhiên, không cần chạy theo những chi tiết li kì rùng rợn mà vẫn có sức hút mạnh mẽ. Có được điều đó chính là nhờ chủ nghĩa nhân đạo tích cực của nhà văn. Sự thể hiện cuộc đời hai nhân vật trung tâm từ bóng tối đau khổ, ô nhục vươn ra ánh sáng của tự do và nhân phẩm đã chứng minh rất rõ điều đó. III. Kết bài Hơn nửa thế kỉ trôi qua, cho đến nay, Mị vẫn còn đủ sức ám ảnh tâm can con người. Một cô gái Mông xinh đẹp. Một thân phận khổ đau. Một người đàn bà mạnh mẽ chuyển mình từ “tự phát” đến “tự giác” vùng lên đi tìm cuộc sống tự do. Hơi thở Tây Bắc dường như man mác trong từng câu chữ. Ra đời đã lâu, tuy vậy truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” vẫn còn nguyên sơ giá trị của nó, văn phong Tô Hoài vẫn mang một sắc thái riêng biệt không trộn lẫn vào bất kì gương mặt nào. Và mỗi lần giở lại từng trang văn Tô Hoài, hình ảnh cô Mị vẫn tác động mạnh mẽ vào xúc cảm người đọc, buồn, đau, khổ, hạnh mọi thứ vẫn như lần đầu khám phá không gì đổi thay ĐỀ 2: Cảm nhận đoạn văn dưới đây và bình luận về giá trị hiện thực được nhà văn Tô Hoài thể hiện trong đoạn trích “ Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày. Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.” (Trích Vợ chồng A Phủ, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam 2020, tr. 6) BÀI LÀM I. Mở bài 4
- Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta. Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc. “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Tô Hoài trong giai đọan sáng tác sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nội dung kể về cuộc đời đầy biến cố của đôi vợ chồng trẻ người Mông là Mị và A Phủ trong chế độ thực dân, phong kiến. Đoạn trích ở phần đầu truyện: Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau bao giờ chết thì thôi thể hiện thành công giá trị hiện thực về cuộc đời người dân miền núi Tây Bắc trong sáng tác của Tô Hoài. II.Thân bài 1. Khái quát Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài; phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, họ thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích cùng Mị đánh Pháp bảo vệ dân làng. Đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất của tác phẩm. Trong tác phẩm này, diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân được xem là ấn tượng nhất – thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tô Hoài trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. 2. Cảm nhận đoạn trích Mị xuất hiện ngay từ phần mở đầu tác phẩm, gây ám ảnh cho người đọc về một kiếp người héo hắt, tàn tạ “ chỉ biết cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Mỵ không hiện lên bằng chân dung mà hiện lên bởi số phận – một số phận đau buồn về kiếp người làm dâu gạt nợ trong nhà thống lý Pá Tra. Mị là cô gái trẻ đẹp là bông hoa ngát hương của núi rừng Tây Bắc. Mị tài hoa với điệu sáo làm say mê biết bao nhiêu chàng trai “ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Mị yêu lao động “biết cuốc nương làm ngô”. Mị giàu lòng tự trọng và hiếu thảo với cha già. Khi biết tin bố sẽ gạt nợ mình cho nhà thống lý, Mị tha thiết van xin “bố đừng bán con cho nhà giàu”. Đó chính là vẻ đẹp về nhân cách và phẩm giá của người con gái với vẻ đẹp trong ngần thánh thiện như loài hoa ban thơm ngát giữa rừng. Nhưng có ngờ đâu sự hiểm độc của chính sách cho vay nặng lãi của bọn thổ ty phong kiến miền núi như một sợi dây oan nghiệt siết chặt lấy cuộc đời Mị. Đắng cay thay, đêm tình mùa xuân đẹp nhất của đời người con gái đã biến thành một đêm bi kịch, tủi nhục khi A Sử bắt cóc Mị về nhà thống lý. Và một buổi lễ cúng trình ma sáng hôm sau đó đã trói chặt cuộc đời Mị từ đấy. Lúc đầu mới về “làm dâu” để phản kháng lại cái sự vô lí ấy, Mị đã “hằng mấy tháng trời đêm nào Mị cũng khóc”. Khóc là biểu hiện của trạng thái tâm lí bị ức chế, không cam chịu, không chấp nhận cái sự thật nghiệt ngã ấy. Mị cũng đã từng nghĩ đến cái chết khi cầm nắm lá ngón về tự tử trước mặt cha nhưng vì thương cha già Mị không đành chết. Mị ném nắm lá ngón xuống đất như ném đi tuổi trẻ hạnh phúc của mình để quay về nhà thống lý chấp nhận kiếp sống trâu ngựa. Cái địa ngục trần gian ấy đã giam cầm cuộc đời Mị. Tuổi xuân của Mị bị vùi dập đến héo úa, lụi tàn trong căn buồng chỉ độc một cái cửa sổ nhỏ như lòng bàn tay “trông ra ngoài không biết sương hay là nắng”. Mị bị nô lệ hóa trở thành công cụ lao động. Nói đúng hơn là bị bóc lột sức lao động một cách tàn tệ trở thành một súc nô trong nhà thống lý. Cuộc sống của Mị bị vùi vào công việc cả đêm lẫn ngày “tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay xe đay, cuối mùa thì đi nương bẻ bắp ”. Không chỉ vậy, Mị còn bị bóng ma thần quyền áp chế làm cho tê liệt về tinh thần, mất hết cả ý thức phản kháng. Nhà văn Tô Hoài đã nhiều lần so sánh Mị với con vật (con ngựa, con trâu, con rùa). Từ đó Mị sống trong vô cảm, tâm hồn bị phong kín bởi sự lặng câm, băng giá “càng ngày Mị càng không nói, cứ lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Thử hỏi còn xót xa nào hơn thế nữa không ? 3. Phân tích giá trị hiện thực trong đoạn trích Giá trị hiện thực là gì? Đó là bức tranh đời sống hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm của mình. Mỗi tác phẩm văn học đều có giá trị hiện thực, bởi văn chương không thể xa rời thực tế.“Nhà văn phải là người thư ký trung thành của thời đại”. Biểu hiện trước hết về giá trị hiện thực trong đoạn trích là Tô Hoài đã miêu tả chân thực số phận cực khổ của người dân dưới ách thống trị của bọn chúa đất miền núi và bọn thực dân phong kiến, được thể hiện qua nhân vật Mị: Mị vốn là một cô gái người Mèo có đủ khả năng và điều kiện hưởng một cuộc sống 5
- hạnh phúc, có một tương lai tươi sáng. Mị xinh đẹp, tài năng, hiếu thảo, yêu lao động, có lòng tự trọng Khi Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống Lí Pá Tra, lúc đầu Mị xuất hiện ý thức phản kháng từ yếu ớt “đêm nào cũng khóc” đến mạnh mẽ “ăn lá ngón tự tử” nhưng sau đó, khi bố mất, khi đã quen với mọi thứ, Mị chấp nhận số phận bi kịch của mình. Ý thức phản kháng mất đi, Mị chấp nhận số phận của mình, sống một cách dật dờ, tàn lụi: Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Mị được so sánh theo thủ pháp “vật hóa”: so sánh ngang bằng (Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa...; Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.) và so sánh không ngang bằng (Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.) nhằm tập trung phản ánh hai nội dung: nhận thức của Mị về nỗi khổ, sự đọa đày về thân xác (Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa...; Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.) và sự tê liệt về ý thức, tinh thần (Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.). Từ đó, tác giả làm nổi bật dòng tâm tư, nhận thức của nhân vật về cuộc đời, số phận nô lệ buồn đau, cực nhục của Mị, sự đọa đày cả về thể xác lẫn tinh thần đối với Mị. Mị còn được nhà văn khắc họa bằng những hành động liên tiếp nhau, lặp đi lặp lại (lên núi hái thuốc phiện, giặt đay, xe đay, bẻ bắp, hái củi, bung ngô, tước đay).Cách khắc họa nhân vật của Tô Hoài gây ấn tượng về một con người bị tê liệt về xúc cảm, hành động như một cỗ máy đã được lập trình sẵn, chỉ như đang tồn tại một cách vô thức mà không hề sống với bất kì một trạng thái cảm xúc sống động nào. Hình ảnh ẩn dụ: căn buồng Mị ở “kín mít, chỉ có một cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào nhìn ra cũng chỉ thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng” là biểu tượng ám gợi về địa ngục trần gian, tù túng, ngột ngạt, nơi cầm tù tuổi thanh xuân của con người, biến Mị từ một cô gái trẻ trung phơi phới thành một con người vô cảm, cam chịu. Đó không gian phi nhân tính. Tận cùng của sự cam chịu : “Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.”. Mị phải chịu đựng cả nỗi đau về thể xác và tinh thần. Mặt khác, giá trị hiện thực của đoạn trích còn thể hiện ở sức tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến miền núi Tây Bắc: Chúng lợi dụng cường quyền và thần quyền để áp bức, bóc lột người dân miền núi. Mị là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi do chúng đặt ra. Chúng biến trần gian thành địa ngục, chà đạp lên hạnh phúc, tình yêu của con người. Không những đày đọa thể xác của Mị, chúng còn làm tê liệt ý thức phản kháng, sống trong sự cam chịu, chấp nhận kiếp đời làm dâu gạt nợ, nô lệ đầy tủi nhục . Nhân vật Mị được phác tả bằng vài nét chân dung gây ám ảnh, có sự kết hợp giữa giọng trần thuật của nhà văn với dòng tâm tư của nhân vật, khiến người đọc có cảm giác người viết đã nhập sâu vào trong dòng ý nghĩ, tâm tư của nhân vật để diễn tả suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật; nhiều biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ ; ngôn ngữ kể giàu chất thơ, xúc động. III. Kết bài: Qua giá trị hiện thực trong đoạn trích, tác giả lên án, vạch trần bộ mặt tàn bạo, độc ác của kẻ thù giai cấp; cảm thông, đồng cảm, thương yêu với số phận đau thương của người dân Tây Bắc. Đó là thái độ và tấm lòng đáng trân quý của nhà văn cách mạng trong văn học 1945-1975. Giá trị hiện thực trong đoạn trích góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật truyện ngắn của Tô Hoài. ĐỀ 3: Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho.Trẻ em đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều quanh nương để sưởi lửa.Ở Hồng Ngài, người ta thành lệ cứ ăn Tết thì gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội. Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ. ( ) Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi.Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của 6
- người đang thổi. "Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương Ta không có con trai con gái Ta đi tìm người yêu". Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới. Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm sân chơi chung ngày tết. Trai gái, trẻ con ra sân ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi kèn và nhảy. Cả nhà thống lý ăn xong bữa cơm tết cúng ma. Xung quanh chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng vẫn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm tiếp ngay cuộc rượu bên bếp lửa. Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mỵ lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. (TríchVợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr 6,7) Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp bức tranh thiên thiên, cảnh sinh hoạt và nhân vật Mị ở đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét chất thơ trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài. BÀI LÀM I. Mở bài Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam, là nhà văn có biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của những miền đất mà ông đã đi qua. Một trong những thành công nhất của nhà văn khi viết về đề tài miền núi Tây Bắc là truyện Vợ chồng A Phủ. Đoạn trích “ Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong... Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị” đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp thiên nhiên, cảnh sinh hoạt và sức sống tiềm tàng của Mị trong đoạn trích cũng như chất thơ trong sáng tác của Tô Hoài. II.Thân bài 1. Khái quát Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài; phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, họ thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích cùng Mị đánh Pháp bảo vệ dân làng. Đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất của tác phẩm. Trong tác phẩm này, diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân được xem là ấn tượng nhất – thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tô Hoài trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Mị là một cô gái xinh đẹp, tài hoa. Cô có tài thổi sáo, thổi đàn môi khiến bao người mê. Người con gái hiếu thảo ấy xin được ở nhà cuốc nương, trồng ngô trả nợ thay cho cha mẹ. Mị có đủ những phẩm chất tốt đẹp xứng đáng được hưởng một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Thế nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí. Bề ngoài, Mị là con dâu nhưng thực chất bên trong lại là con nợ. Nếu chỉ là con nợ, có thể một ngày nào đó Mị còn hi vọng trả xong nợ mà giải thoát, nhưng Mị lại bị cùng lúc hai tròng dây trói buộc. Mị không dám chết vì sợ làm liên lụy đến cha, và bởi sự ám ảnh, trói buộc của thần quyền. Thời gian đầu về làm dâu, Mị phản kháng quyết liệt. Mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc, và định tự tử bằng lá ngón. Những năm tháng làm dâu là chuỗi dài liên miên trong cực nhọc vất vả, dường như 7
- làm tê liệt cả ý thức về bản thân của Mị: “Ở lâu trong cái khổ, Mị đã quen khổ rồi”. Mị tưởng mình là con trâu, con ngựa trong nhà Pá Tra, Mị “lùi lũi như con rùa nuôi sau xó cửa”. Căn buồng của Mị như ngục thất tinh thần. Mị sống vật vờ như một cái bóng, mất hết ý niệm về thời gian. Điều kì diệu là dẫu trong tột cùng đau thương thì mọi thế lực tội ác cũng không hủy diệt được con người. Bị đọa đày cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng Mị vẫn sống âm thầm mà mãnh liệt. Từ trong sâu thẳm tâm hồn người con gái ấy vẫn âm ỉ, le lói một ngọn lửa khao khát sống khi mùa xuân về. 2. Cảm nhận đoạn trích Những bức tranh thiên nhiên có vẻ đẹp riêng của miền núi Tây Bắc, đặc biệt là cảnh mùa xuân trên vùng núi cao, được Tô Hoài miêu tả bằng những rung cảm thiết tha của hồi ức. Tết của đồng bào miền núi Tây Bắc là sự cộng hưởng của vẻ đẹp đất trời và niềm vui thu hoạch mùa màng.“Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho”. Cái tết ở Hồng Ngài năm ấy đến vào lúc thời tiết khắc nghiệt, gió thổi và rét rất dữ dội nhưng không ngăn nổi những sắc màu rực rỡ của thiên nhiên, không ngăn nổi cái rạo rực của lòng người. Cả bản làng sáng bừng trong sắc vàng, đó là màu vàng của ngô, lúa, của trái bí đỏ, của cỏ gianh cùng với những sắc màu rực rỡ của “những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ.” Ngoài sắc màu, bức tranh xuân vùng miền núi Tây Bắc còn rộn rã với thanh âm. Đó là âm thanh của tiếng khèn, của tiếng nói cười của trẻ con, tiếng chó sủa xa xa và đặc biệt hơn cả là tiếng sáo. Nhà văn Tô Hoài rất dụng công trong mô tả tiếng sáo bởi tiếng sáo mùa xuân được xem như linh hồn của đời sống tinh thần nhân dân vùng Tây Bắc. Tiếng sáo là sự mã hóa vẻ đẹp tâm hồn nhân dân Tây Bắc, là phương tiện giao tiếp của đồng bào nơi đây “Anh ném pao, em không bắt. Em không yêu, quả pao rơi rồi”. Vẻ đẹp của bức tranh sinh hoạt, phong tục miền núi, đặc biệt là cảnh ngày tết của người Mèo, qua ngòi bút của Tô Hoài, thực sự có sức say lòng người. Đoạn trích giúp chúng ta ít nhiều có thể hình dung về phong tục đón Tết của người Mèo (H'Mông): người Mèo đón Tết khi vụ mùa gặt hái đã xong; mọi người thường tập trung ở một không gian thoáng, rộng, thường là mỏm đất phẳng ở đầu làng để thổi khèn, thổi sáo, đánh quay, ném còn. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Từ láy lấp ló gợi âm thanh tiếng sáo lúc ẩn lúc hiện. Thanh âm ấy tạo không gian mênh mông, được nhà văn miêu tả từ xa đến gần, là biểu hiện của sinh hoạt mang nét đặc trưng của con người Tây Bắc. Đây cũng là dịp để các chàng trai cô gái trẻ kiếm tìm người yêu, người tâm đầu ý hợp với mình. Mùa xuân là mùa của hò hẹn, mùa của tình yêu, của hạnh phúc. Giữa khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, quyến rũ và say mê, nổi bật con người Tây Bắc đa tình, nghệ sĩ. Nhà văn tập trung tả lễ hội diễn ra ở Hồng Ngài vào mùa xuân, trong đó phần Hội được nhấn mạnh hơn cả. Trong đêm tình mùa xuân, ông tả Hội trước: Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết. Trai gái, trẻ con ra sân chơi ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy.Về dung lượng, chỉ có ba câu văn tả trực tiếp Lễ cúng ma ngày Tết diễn ra trong không gian nhà thống lý: Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma. Xung quanh, chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng vẫn còn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa.Hai đoạn văn gần nhau, tự nó toát lên cái nhìn so sánh của tác giả và khơi gợi ý so sánh ở người đọc. Nhìn ở góc độ vật chất, đó là thế giới của nghèo và giàu; nhìn ở góc độ địa vị, đó là thế giới của dân dã và chức sắc; nhìn ở góc độ phong tục, đó là thế giới của bên vui chơi và bên thờ cúng; nhìn từ góc độ tuổi tác, bên thường gắn với trẻ, bên gắn với già; nhìn từ tính chất của hoạt động thì một bên trần tục và một bên linh thiêng. Nhìn từ thân phận Mị, thế giới trần tục ở ngoài kia trở thành thế giới của tự do - thế giới Mị khao khát, thế giới linh thiêng ở trong này biến thành thế giới của giam cầm - thế giới Mị muốn chối bỏ. Vẻ đẹp tâm hồn và sức sống mãnh liệt của nhân vật Mị được miêu tả tinh tế, xúc động. Trước cảnh tưng bừng ấy, cứ tưởng Mị nào có biết xuân là gì? Nhưng thật bất ngờ, những đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài đã làm cho tâm hồn Mị hồi sinh trở lại. Có thể nói, tâm trạng và hành động của Mị đã được Tô Hoài thể hiện một cách tinh tế và xúc động. Tâm hồn Mị tha thiết bổi hổi khi nghe tiếng sáo từ đầu núi vọng lại. Mị đã ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi sáo. Sau bao nhiêu ngày câm lặng, có lẽ đây là lần đầu tiên người con dâu gạt nợ này đã khẽ hát, dù chỉ là nhẩm thầm. Mị nhẩm thầm (không phải là “hát thầm”), tức là khẽ khàng nhắc lại theo sự hồi tưởng, thậm chí không liền mạch, lúc nhớ lúc quên lời bài hát của 8
- người đang thổi. Có lẽ trước đây Mị cũng đã từng thổi sáo hoặc hát bài này rồi. Giờ nghe tiếng sáo ngoài đầu núi vọng lại, lúc ẩn lúc hiện, trong Mị đã thức dậy điều gì đó quen thuộc, lâu nay bị lãng quên. Mị lén lấy hũ rượu uống ực từng bát. Cách uống khiến người đọc cảm nhận dường như không phải Mị đang uống rượu mà là uống từng bát cay đắng, uất hận vào lòng. Những cay đắng, uất hận đó chất chồng và cứ bị dồn đẩy, nghẹn đắng trong lòng Mị. Men rượu đã làm cô hồi tưởng về ngày trước. Tiếng sáo gọi bạn tình văng vẳng trong tai Mị. Bao nhiêu kỉ niệm đẹp thời con gái đã sống dậy trong lòng Mị: cô thổi sáo giỏi và có bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo. Hồi tưởng lại mùa xuân tươi đẹp thời con gái, điều đó cho thấy Mị đã được thức tỉnh. Khát vọng sống như ngọn lửa đã bừng sáng tâm hồn Mị. Đoạn trích cho thấy bút pháp nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Tô Hoài: Các từ ngữ địa phương gợi những hình ảnh gần gũi đặc trưng cho miền núi Tây Bắc: nương ngô, nương lúa, vỡ nương, lều canh nương, cùng những sinh hoạt độc đáo: hái bí đỏ chơi quay, thổi sáo. Từ ngữ miêu tả chi tiết đẹp và giàu sức sống: cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy đem ra phơi trên mỏm đá xòe ra như những con bướm sặc sỡ, tiếng sáo lấp ló ngoài đầu núi. Đoạn miêu tả giàu tính nhạc thơ, trữ tình gợi cảm. Âm điệu câu văn êm ả, ngắn và đậm phong vị Tây Bắc (kiểu cách nói năng của người miền núi: nương ngô, nương lúa đã gặt xong, lúa ngô...). Đi sâu vào khai thác diễn biến tâm lí nhân vật Mị rất tự nhiên, chân thực và sâu sắc thông qua hành động và tâm trạng, chủ yếu thể hiện nội tâm tinh tế, xúc động. 3. Nhận xét chất thơ trong sáng tác của Tô Hoài. Qua đoạn trích người đọc thấy được chất thơ trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài: Chất thơ trong sáng tác của Tô Hoài hiện lên trước hết qua hình ảnh thiên nhiên vời vợi với những núi non, nương rẫy, sương giăng không thể lẫn được với một nơi nào trên đất nước ta. Những chi tiết miêu tả thiên nhiên đan xen, hoà quyện trong lời kể của câu chuyện. Đoạn trích cũng miêu tả rất tinh tế một phong tục rất đẹp, rất thơ của đồng bào vùng cao là lễ hội mùa xuân tràn ngập màu sắc và âm thanh, ấn tượng nhất về màu sắc là vẻ đẹp của váy hoa, của âm thanh là tiếng sáo. Nét đặc sắc nhất của chất thơ biểu hiện ở tâm hồn nhân vật Mị. Ẩn sâu trong tâm hồn Mị, một cô gái tưởng chừng như héo hắt, sống một cuộc đời lầm lũi “đến bao giờ chết thì thôi” ấy, có ai ngờ, vẫn le lói những đốm lửa của khát vọng tự do, của tình yêu cuộc sống. Ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn với hàng loạt các âm thanh, các hình ảnh gợi hình, gợi cảm rất nên thơ và đậm màu sắc. Chất thơ trong văn xuôi của Tô Hoài được tạo nên bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn cái khí sắc lãng mạn với bút pháp trữ tình cùng cái duyên mượt mà của một văn phong điêu luyện. Bên cạnh nghệ thuật sử dụng ngôn từ, Tô Hoài còn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi khả năng diễn đạt tài tình những rung động sâu xa, tinh tế trong thế giới đa cung bậc và muôn vàn sắc thái của tình cảm. III. Kết bài Chất thơ trong đoạn trích không những bộc lộ tài năng nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài mà còn thể hiện tình yêu thiên nhiên và tấm lòng nhân đạo của ông với con người Tây Bắc, góp phần làm sáng tỏ cảm hứng lãng mạn cách mạng của văn xuôi Việt Nam 1945-1975. ĐỀ 4: Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội. Nhưng trong các làng Mèo Ðỏ, những chiếc váy hoa đã được phơi ra mỏm đá, xoè như con bướm sặc sỡ. Ðám trẻ đợi tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi, đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mỵ nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi: Mày có con trai con gái rồi Mày đi nương Ta không có con trai con gái Ta đi tìm người yêu. 9
- Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới. Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm sân chơi chung ngày tết. Trai gái, trẻ con ra sân ấy tụ tập đánh pao, dánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy. Cả nhà thống lý ăn xong bữa cơm tết cúng ma. Xung quanh chiêng đánh ầm ỹ, người ốp đồng vẫn nhảy lên xuống, rung bần bật. Vừa hết bữa cơm tiếp ngay cuộc rượu bên bếp lửa. Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt đấy nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước, tai văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân đến, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mỵ hết núi này sang núi khác. Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mị không biết. Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy. Nhưng Mị không bước ra đường. Mỵ từ từ vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Anh ném pao, em không bắt Em không yêu, quả pao rơi rồi... Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại sửa soạn đi chơi. A Sử thay áo mới, khoác thêm vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trằng lên đầu. Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm. Nó còn đương rình bắt nhiều người con gái nữa về làm vợ. Cũng chẳng bao giờ Mị nói gì. Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ông mỡ, sắn một miếng, bỏ thêm voà đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi. Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc. Mị với tay lấy cái váy hoa vắt phía trong vách. A Sử sắp bước ra, bỗng quay lại, lấy làm lạ. A Sử nhìn quanh thấy Mị rút thêm cái áo. A Sử hỏi: - Mày muốn đi chơi à? Mỵ không nói. A Sử cũng không hỏi thêm. A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trới đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xoã xuống. A Sử quấn luôn tóc lên cột. Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa. Trói xong. A Sử thắt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi phẩy tay tắt đèn, đi ra khép cửa buồng lại. Trong bóng tối, Mị đứng im lặng như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn. Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào!".”Mị vùng bước đi. Nhưng chân tay đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. (Trích, Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân qua đoạn văn trên. Từ đó bình luận ngắn gọn về giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài. BÀI LÀM I. Mở bài 10
- Tô Hoài là một trong những nhà văn có sức sáng tạo dồi dào nhất trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta. Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc, tiêu biểu là truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. Tác phẩm vừa là một bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức phong kiến và thực dân, vừa là một bài ca về sức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người. Điều đó được thể hiện rõ nét qua sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân. II.Thân bài 1. Khái quát Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài; phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, họ thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích cùng Mị đánh Pháp bảo vệ dân làng. Đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất của tác phẩm. Trong tác phẩm này, diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân được xem là ấn tượng nhất – thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tô Hoài trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Mị là một cô gái xinh đẹp, tài hoa. Cô có tài thổi sáo, thổi đàn môi khiến bao người mê. Người con gái hiếu thảo ấy xin được ở nhà cuốc nương, trồng ngô trả nợ thay cho cha mẹ. Mị có đủ những phẩm chất tốt đẹp xứng đáng được hưởng một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Thế nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí. Bề ngoài, Mị là con dâu nhưng thực chất bên trong lại là con nợ. Nếu chỉ là con nợ, có thể một ngày nào đó Mị còn hi vọng trả xong nợ mà giải thoát, nhưng Mị lại bị cùng lúc hai tròng dây trói buộc. Mị không dám chết vì sợ làm liên lụy đến cha, và bởi sự ám ảnh, trói buộc của thần quyền. Thời gian đầu về làm dâu, Mị phản kháng quyết liệt. Mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc, và định tự tử bằng lá ngón. Những năm tháng làm dâu là chuỗi dài liên miên trong cực nhọc vất vả, dường như làm tê liệt cả ý thức về bản thân của Mị: “Ở lâu trong cái khổ, Mị đã quen khổ rồi”. Mị tưởng mình là con trâu, con ngựa trong nhà Pá Tra, Mị “lùi lũi như con rùa nuôi sau xó cửa”. Căn buồng của Mị như ngục thất tinh thần. Mị sống vật vờ như một cái bóng, mất hết ý niệm về thời gian. Điều kì diệu là dẫu trong tột cùng đau thương thì mọi thế lực tội ác cũng không hủy diệt được con người. Bị đọa đày cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng Mị vẫn sống âm thầm mà mãnh liệt. Từ trong sâu thẳm tâm hồn người con gái ấy vẫn âm ỉ, le lói một ngọn lửa khao khát sống khi mùa xuân về. 2. Phân tích tâm trạng và hành động của Mị trong đoạn văn: Năm ấy “gió và rét dữ dội”. Nhưng mùa xuân vẫn cứ đến ở Hồng Ngài: “Trẻ con đi hái bí đỏ, cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy hoa được đem ra phơi ”. Như một niềm mong đợi, vui sướng khi ngày tết người nghèo cơ cực mấy ai cũng được đi chơi. Ở mỗi đầu làng, trai gái, trẻ con tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy. Những đêm tình mùa xuân đang tới, vang trong đêm là tiếng sáo vọng lại, tiếng sáo rủ bạn đi chơi. Vẻ đẹp gợi cảm của không khí ngày xuân cùng với lẽ sống phóng khoáng , tự do của người Mông trở thành mãnh lực tác động đến tâm hồn Mị, một tâm hồn đang khô héo. Mị dần tỉnh lại, thoát khỏi trạng thái vô cảm bấy lâu: Mị lắng nghe tiếng sáo bằng tâm trạng “thiết tha, bổi hổi”. Cảm giác nhớ nhung da diết về kỉ niệm của quá khứ và cảm giác rạo rực, xao xuyến của hiện tại. Mị nhẩm thầm bài hát của người đang thổi sáo: “Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương Ta không có con trai con gái Ta đi tìm người yêu”. 11
- Khát vọng tìm đến tình yêu, hạnh phúc của lời bài hát như đánh thức niềm khát khao cuộc sống tự do, hạnh phúc bị chôn vùi đã lâu trong tiềm thức Mị. Mị lén lấy hũ rượu “cứ uống ực từng bát”. Cách uống đầy tâm trạng. Mị uống như thể nuốt những đắng cay của phần đời đã qua và đang uống cho cả những khát khao cho phần đời sắp tới. “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượi còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi...”. Mị lắng nghe tiếng sáo gọi bạn, Mị “uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Mị sống lại những kí ức đẹp thời thiếu nữ, Mị thổi sáo giỏi, có biết bao nhiêu người mê, đi theo Mị. Sức sống trong Mị bắt đầu hồi sinh “Mị thấy phơi phới trở lại”, trong lòng đột nhiên vui sướng. Mị ý thức mình còn rất trẻ. Mị muốn được đi chơi. Chính tiếng sáo đã làm sống dậy cái sức sống ẩn tàng trong cơ thể trẻ trung và tâm hồn vốn ham sống của Mị. Nhưng lúc này, Mị cảm nhận sâu sắc nỗi tủi nhục của mình vì biết chồng Mị không đời nào cho Mị đi chơi tết. Mị chỉ muốn ăn lá ngón để chết ngay. Đây là một biểu hiện của một tâm hồn đang sống lại, tỉnh táo để nhận ra và thấm thía nỗi đau bị tước đoạt quyền được sống. Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lững bay ngoài đường, kéo Mị trở về nỗi khát khao tự do, hạnh phúc. Mị thắp đèn cho căn buồng sáng lên, Mị quấn lại tóc, định mặc cả váy hoa để đi chơi. Khát vọng tự do trỗi dậy mãnh liệt khiến Mị bất chấp thực tại khổ đau. Trông thấy Mị chuẩn bị đi chơi, A Sử bước lại, nắm lấy Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói Mị đứng vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa Mị như quên hẳn mình đang bị trói, quên những đau đớn về thể xác, Mị vẫn thả hồn theo những cuộc chơi, những tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết, tiếng sáo không chỉ vang vọng trong không gian mà còn tồn tại trong chính tâm hồn Mị. Ngay cả khi cô bị trói đứng thì âm thanh của tiếng sáo như ma lực làm bùng cháy trong Mị niềm khao khát yêu, khao khát sống. “Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được”. Tiếng sáo của những đôi lứa yêu nhau và của cả những người lỡ duyên đã có sự tác động lớn lao tới tâm hồn Mị. Nó thôi thúc Mị, khiến Mị vùng bước đi, quên thực tại đau khổ trước mắt. Chi tiết Mị “vùng bước đi” đã minh chứng được sức sống mãnh liệt trong tâm hồn Mị. Tâm hồn ấy đang đến với tự do, đang tràn trề nỗi yêu đương của tuổi trẻ. Nhưng cũng chính lúc này, khi “vùng bước đi” theo tiếng sáo, sợi dây trói thắt vào “tay chân đau không cựa được”, Mị mới trở lại với hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã. Lòng Mị đau đớn, thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Tiếng sáo tượng trưng cho tình yêu, hạnh phúc đột ngột biến mất, “Mị không nghe thấy tiếng sáo nữa”. “Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa”, tiếng chân ngựa đạp vào vách, nhai cỏ, gãi chân là những âm thanh của thực tại, đưa Mị trở lại với sự liên tưởng đau đớn bởi kiếp sống “không bằng con ngựa” của mình. Sau bao nhiêu năm tháng, Mị đã tỉnh táo nhận ra thân phận trâu ngựa của mình, đã thổn thức khi thấy mình “không bằng con ngựa” nhà thống lí. Hình ảnh so sánh con người với con vật cứ day dứt, trở đi trở lại trong tác phẩm. Khi về làm vợ A Sử chắc chắn nhiều lần Mị đã bị hắn đánh đập, hành hạ. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên Mị thổn thức nghĩ không bằng con ngựa. Bởi những lần trước Mị nghĩ mình cũng là con trâu, con ngựa thì đó là ý nghĩ của con người cam chịu, quen khổ. Còn giờ đây, nó là cái thổn thức của tâm hồn bị vùi dập. Cách kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo. Đặc biệt tâm trạng và hành động khá phức tạp của Mị được diễn tả, lí giải một cách cụ thể, hợp lí. Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc, sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình, đậm chất thơ Tất cả thể hiện tài năng viết văn cùng sự am hiểu sâu sắc đời sống, tâm lí đồng bào dân tộc miền núi của Tô Hoài. 3. Bình luận ngắn gọn về giá trị nhân đạo của nhà văn Tô Hoài. Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân chính. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ, đồng thời lên án những thế lực tàn bạo, đen tối chà đạp lên quyền sống, ước mơ hạnh phúc và phẩm giá của con người. 12
- Biểu hiện thứ nhất của giá trị nhân đạo trong tác phẩm này trước hết được toát lên từ niềm cảm thông sâu sắc của Tô Hoài đối với những số phận bất hạnh, bị tước đoạt quyền sống, bị lăng nhục, đày đọa mà tiêu biểu là Mị và A Phủ. Biểu hiện thứ hai của tư tưởng nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ còn toát lên từ sự tố cáo gay gắt thế lực phong kiến miền núi tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của nhân dân lao động Tây Bắc mà tiêu biểu là Mị và A Phủ. Biểu hiện thứ ba của giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là việc nhà văn phát hiện và nâng niu trân trọng trước những vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất cao đẹp của nhân vật Mị và A Phủ. Biểu hiện sau cùng của tư tưởng nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là việc nhà văn đã chỉ ra con đường giải phóng thực sự của người lao động là đi từ tự phát đến tự giác. Ở đoạn văn này, tác giả miêu tả hành động của Mị rất ít, nhưng người đọc vẫn bị cuốn hút bởi một con người đang từ cõi âm u mơ hồ trỗi dậy, có một sức sống tiềm tàng mà không một thế lực tàn ác nào vùi dập được. Không gian, thời gian, giọng kể chuyện của tác giả đều phù hợp với diễn biến phức tạp của tâm trạng Mị. Tô Hoài đã dẫn dắt người đọc dõi theo tâm trạng ấy, khi thiết tha bồi hồi, khi nghẹn ngào xót xa. Đoạn văn miêu tả tâm trạng Mị trong đêm xuân thấm đẫm tính nhân văn, góp phần tô đậm tính cách nhân vật Mị; thể hiện một cách chân thật và cảm động giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo của truyện ngắn Vợ chổng A Phủ. III. Kết bài Đoạn văn miêu tả tâm trạng nhân vật Mị trong đêm xuân khi bị trói thấm đẫm tính nhân văn, góp phần tô đậm tính cách nhân vật Mị. Trang văn trong đoạn trích đầy ắp chất thơ và tấm lòng nhân hậu, một tài năng phân tích tâm lí nhân vật bậc thầy, Tô Hoài đã khám phá, diễn tả chiều sâu tâm hồn cùng những biến thái thăng trầm ,gấp khúc ,tuần tự và đột biết trong tâm trạng Mị. Chính sức sống tiềm tàng và mãnh liệt của người con gái Mèo xinh đẹp đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc và góp phần không nhỏ vào sự thành công của tác phẩm. ĐỀ 5: “Ngày tết, Mị cũng uống rượu.Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước.Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng.Ngày trước Mị thổi sáo giỏi.Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo.Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị . Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mị không biết.Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà.Mãi sau Mị mới đứng dậy.Nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà Mị từ từ bước vào buồng.Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng.Đã từ nãy Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước.Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra.Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Anh ném pao, em không bắt Em không yêu, quả pao rơi rồi ” (Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 7-8) Anh/ chị hãy phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đoạn văn bản trên.Từ đó nhận xét ngắn gọn .... BÀI LÀM 13
- I. Mở bài Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta. Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc. “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn Tô Hoài trong giai đọan sáng tác sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhân vật Mị trong tác phẩm là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc có ý nghĩa khái quát cao, tiêu biểu cho cuộc sống đau khổ, tủi nhục và quá trình vùng lên tự giải phóng của đổng bào miền núi Tây Bắc. Đoạn trích “Ngày tết, Mị cũng uống rượu . Em không yêu, quả pao rơi rồi.”là một phần diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân. Qua đó người đọc thấy được đăc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tô Hoài. II.Thân bài 1. Khái quát Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài; phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, họ thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích cùng Mị đánh Pháp bảo vệ dân làng. Đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất của tác phẩm. Trong tác phẩm này, diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân được xem là ấn tượng nhất – thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tô Hoài trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Mị là một cô gái xinh đẹp, tài hoa. Cô có tài thổi sáo, thổi đàn môi khiến bao người mê. Người con gái hiếu thảo ấy xin được ở nhà cuốc nương, trồng ngô trả nợ thay cho cha mẹ. Mị có đủ những phẩm chất tốt đẹp xứng đáng được hưởng một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Thế nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí. Bề ngoài, Mị là con dâu nhưng thực chất bên trong lại là con nợ. Nếu chỉ là con nợ, có thể một ngày nào đó Mị còn hi vọng trả xong nợ mà giải thoát, nhưng Mị lại bị cùng lúc hai tròng dây trói buộc. Mị không dám chết vì sợ làm liên lụy đến cha, và bởi sự ám ảnh, trói buộc của thần quyền. Thời gian đầu về làm dâu, Mị phản kháng quyết liệt. Mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc, và định tự tử bằng lá ngón. Những năm tháng làm dâu là chuỗi dài liên miên trong cực nhọc vất vả, dường như làm tê liệt cả ý thức về bản thân của Mị: “Ở lâu trong cái khổ, Mị đã quen khổ rồi”. Mị tưởng mình là con trâu, con ngựa trong nhà Pá Tra, Mị “lùi lũi như con rùa nuôi sau xó cửa”. Căn buồng của Mị như ngục thất tinh thần. Mị sống vật vờ như một cái bóng, mất hết ý niệm về thời gian. Điều kì diệu là dẫu trong tột cùng đau thương thì mọi thế lực tội ác cũng không hủy diệt được con người. Bị đọa đày cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng Mị vẫn sống âm thầm mà mãnh liệt. Từ trong sâu thẳm tâm hồn người con gái ấy vẫn âm ỉ, le lói một ngọn lửa khao khát sống khi mùa xuân về. Mùa xuân ở Hồng Ngài rộn rã âm thanh và màu sắc. Gió và rét dữ dội không ngăn được không khí rạo rực của mùa xuân : những chiếc váy hoa rực rỡ phơi trên những mỏm đá, sắc vàng ửng của cỏ gianh. Âm thanh rộn rã của trẻ con nô đùa, tiếng chó sủa xa xa, tiếng sáo gọi bạn tình. Những âm thanh, màu sắc ấy đã tạo nên bức tranh mùa xuân đẹp thơ mộng, rạo rực tình yêu, tràn trề nhựa sống khiến Mị hồi sinh. 2. Phân tích tâm trạng và hành động của Mị trong đoạn văn: Đêm tình mùa xuân, mọi người uống rượu, đi chơi và Mị cũng tìm đến rượu, nhưng không phải để tìm vui mà là để giải sầu "Mị uống ực từng bát rồi say". Cách uống rượu của Mị như nuốt căm, nuốt hận vào lòng. Rượu chính là chất men xúc tác để nhân vật có đủ sức mạnh và can đảm làm những việc mà khi tỉnh táo Mị không thể bởi bao áp chế đè nặng. Tai Mị văng vẳng "tiếng sáo gọi bạn yêu". Chính tiếng sáo đã tác động đến Mị, góp phần thức tỉnh một tâm hồn nguội lạnh. Tiếng sáo như sợi dây vô hình nối Mị với quá khứ và hiện tại, làm sống dậy trong Mị những kỉ niệm tươi đẹp. Nói đúng hơn nó đánh thức cái tài hoa trong Mị ngày nào. Mị thổi sáo hay, thổi lá giỏi có biết bao nhiêu người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.. Mị ngồi nhẩm thầm lời của người đang thổi sáo: 14
- Mày có con trai con gái rồi Mày đi làm nương Ta chưa có con trai con gái Ta đi tìm người yêu Sự xuất hiện cũng như tác động đồng thời của cả ba nhân tố có thể ví như một cơn gió đã thổi bùng lên sức sống tiềm tàng trong Mị. Để rồi dẫn đến hàng chuỗi các hành động cả vô thức lẫn ý thức nhưng chứa đựng đầy sức sống của nhân vật. Mị sống lại cả một thời xuân sắc. Mị nhớ lại Mị của những ngày trước- người con gái trẻ trung, đầy kiêu hãnh khiến cô nao nao tiếc nuối. Mị trở lại với niềm ham sống của tuổi trẻ. "Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước". Mị nhận thức được chính mình, đó chính là ý thức về tuổi trẻ. Mị thấy mình còn trẻ "Mị trẻ lắm. Mị hãy còn trẻ. Mị muốn đi chơi". Còn trẻ nghĩa là còn sức sống, còn khao khát, còn muốn yêu thương. Nhưng đớn đau thay, cùng với cảm xúc tìm lại được chính mình là một nỗi tủi thân. Mị đã có chồng nhưng không có tình yêu và hạnh phúc. A Sử đã giam hãm cuộc đời Mị và dẫu "không có lòng với nhau mà cũng phải ở với nhau". Mị ước ao có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại nước mắt chỉ ứa ra. Mị muốn chết để giải thoát nỗi đọa đày, muốn chết để thoát khỏi bi kịch. Mị bước vào buồng, ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trắng trắng. Khát vọng sống như ngọn lửa bùng cháy bao nhiêu thì Mị lại phẫn uất bấy nhiêu. Phẫn uất và đau khổ cho thân phận và số phận trớ trêu đầy bi kịch. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử và Mị lại không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau. Không thể cam chịu mãi kiếp nô lệ, kiếp làm dâu gạt nợ nên Mị đã muốn ăn lá ngón cho chết ngay. Mị muốn phản kháng lại hoàn cảnh, không chấp nhận cuộc sống trâu ngựa này nữa. Đó là khi sức sống tiềm tàng đã được đánh thức. Khi Mị đã hồi sinh, cô ý thức được sự đau khổ dai dẳng của mình và không muốn chấp nhận thực tại cay đắng này, cô khao khát hơn bao giờ hết kiếp sống đáng sống, sống đúng với nghĩa của một con người. Mị khao khát tình yêu, tự do. Khao khát ấy chưa bao giờ bị dập tắt. Sức sống ấy như hòn than phủ đầy tro bụi, có cơ hội sẽ bùng cháy mạnh mẽ. Ý thức về cái chết lại xuất hiện, nhưng lần này nó có ý nghĩa khác. Uất ức, nước mắt Mị ứa ra khi tiếng sáo gọi bạn tình vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Tiếng sáo của tình yêu tuổi trẻ lại thôi thúc Mị, dìu hồn Mị theo những đám chơi. Khát vọng sống mãnh liệt được đẩy lên đến cao độ bởi sự trỗi dậy của sức sống tiềm tàng.Tâm hồn Mị diễn biến rất phức tạp trong quá trình thức tỉnh, nổi loạn. Mị đang sống trong nghịch lí giữa thân phận con dâu gạt nợ và niềm vui phơi phới muốn đi chơi Tết. Đoạn văn miêu tả tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân thể hiện sức sống tiềm ẩn trong Mị. Thông qua đây, nhà văn khám phá, trân trọng, ngợi ca những khao khát tình yêu, hạnh phúc của con người, thể hiện niềm tin vào sức sống của con người không bị hủy diệt. Đồng thời lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên cuộc sống con người. Chính điều đó đã đem đến cho Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài những giá trị nhân đạo sâu sắc. 3. Nhận xét, bình luận (Phần yêu cầu thứ 2 của đề. Tùy yêu cầu đề để giải quyết. Nếu không có không phải làm - PHẦN NÀY XEM Ở CÂU HỎI PHỤ) III. Kết bài: Đoạn trích góp phần hoàn thiện chân dung nhân vật Mị: dù nghèo khó, bị áp bức nhưng trong sâu thẳm tâm hồn vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liêt. Sức sống và khát vọng của Mị trong đoạn trích đã góp phần nêu bật giá trị nhân đạo của tác phẩm. Với nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế và tài năng viết truyện ngắn độc đáo, ngôn ngữ sinh động, chọn lọc, câu văn giàu tính tạo hình, thấm đẫm chất thơ, nhân vật Mị trong đoạn trích nói riêng và trong tác phẩm nói chung đã để lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc một dấu ấn khó phai mờ. Nhân vật Mị và Tác Phẩm “Vợ chồng A Phủ” đã góp phần làm nên tên tuổi của Tô Hoài. PHẦN CÂU HỎI PHỤ LIÊN QUAN ĐẾN ĐOẠN VĂN BẢN 1. Nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả nhân vật của Tô Hoài. Nhà văn Tô Hoài xây dựng nhân vật Mị với nhiều điểm nghệ thuật đặc sắc. Giới thiệu nhân vật tự nhiên mà ấn tượng, kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo đặc biệt tâm trạng được miêu tả, lí giải 15
- cụ thể, hợp lí: Đó là việc khắc họa hình tượng nhân vật, đặc biệt là phương diện miêu tả tâm lí. Đó là việc Tô Hoài xây dựng nhân vật theo kiểu con người phân lập: cô Mị ở hiện tại và cô Mị ở quá khứ hòa chung vào nhau. Hai con người ấy đan xen, khi tách ra khi hòa vào một tạo nên một cô Mị hết sức sinh động, mới lạ. 2. Nhận xét sự tinh tế khi diễn tả sự hồi sinh trong tâm hồn nhân vật Mị của nhà văn Tô Hoài. Sự hồi sinh của tâm hồn nhân vật Mị được tác giả miêu tả tinh tế, phù hợp với tính cách của cô. Nhà văn sử dụng khá nhiều những yếu tố bên ngoài tác động vào nhân vật, được miêu tả rất tự nhiên như mùa xuân, tiếng sáo gọi bạn tình, bữa tiệc đón năm mới... tất cả đã hoá thành những tiếng gọi đánh thức nỗi căm ghét bất công và tàn bạo cùng ý thức phản kháng lại cường quyền, đánh thức cả niềm khao khát một cuộc sống tự do, hoang dã và hồn nhiên vẫn được bảo lưu đâu đó trong dòng máu truyền lại từ lối sống của tổ tiên du mục xa xưa, làm sống dậy sức sống ẩn tàng trong cơ thể trẻ trung và tâm hồn vốn ham sống của Mị. Người đọc không thể không dừng lại, suy ngẫm và chia sẻ cảm xúc với những hành động của nhân vật Mị xuất phát từ những thôi thúc của nội tâm như các chi tiết:“Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát” trong một trạng thái thật khác thường. Rượu làm cơ thể và đầu óc Mị say, nhưng tâm hồn cô thì từ phút ấy, đã tỉnh lại sau bao tháng ngày câm nín, mụ mị vì sự đày đoạ. Cái cách uống rượu một hơi, một ực như thế, khiến người ta nghĩ: người uống rượu ấy đang thực sự phẫn nộ. Và người ta cũng có thể nghĩ: cô ấy uống như thể đang uống đắng cay của cái phần đời đã qua, như thể đang uống cái khao khát của phần đời chưa tới.Mị với cõi lòng đã phơi phới trở lại và cái ý nghĩ lạ lùng mà rất chân thực : “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa.” Nghịch lí trên cho thấy: khi niềm khao khát sống hồi sinh, tự nó bỗng trở thành một mãnh lực không ngờ, xung đột gay gắt, quyết một mất một còn với cái trạng thái vô nghĩa lí của thực tại. Sở trường phân tích tâm lí cho phép ngòi bút tác giả lách sâu vào những bí mật của đời sống nội tâm, phát hiện nét đẹp và nét riêng của tính cách 3. Nhận xét cái nhìn về con người của nhà văn Tô Hoài: Qua diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị, tác giả bày tỏ sự cảm thông thấu hiểu, bênh vực những con người với số phận bất hạnh; trân trọng yêu thương và cảm phục sức sống tiềm tàng, khát vọng tự do, hạnh phúc và khả năng vươn tới tương lai. Đó là cách nhìn đầy tin yêu vào phẩm chất tốt đẹp của con người. Cách nhìn con người của tác giả xuất phát từ sự gắn bó, am hiểu và tình yêu thương với mảnh đất và con người miền núi, từ hiện thực cách mạng với nhiều đổi thay. Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là sản phẩm của nền văn học cách mạng, đứa con tinh thần của nhà văn - chiến sĩ với cảm quan hiện thực, tinh thần lạc quan cách mạng: khẳng định, tin tưởng khả năng, sức mạnh, tương lai con người. Cách nhìn ấy mới mẻ, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, mang lại chất lượng mới cho văn học kháng chiến, khơi dậy sự đồng cảm, trân trọng người đọc, đồng thời thể hiện tài năng, tấm lòng nhà văn Tô Hoài. ĐỀ 6: “Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Từ nãy Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau. Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng, bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng.Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi. Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc. Mị với tay lấy cái váy hoa vắt phía trong vách. A Sử sắp bước ra, bỗng quay lại, lấy làm lạ. A Sử nhìn quanh thấy Mị rút thêm cái áo. Trong bóng tối, Mị đứng im, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn. Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi. "Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào...". Mị vùng bước đi. Nhưng chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét về tài năng của 16
- nhà văn Tô Hoài trong nghệ thuật diễn tả tâm lí nhân vật. ( Trích “Vợ chồng A Phủ ” - Tô Hoài – Ngữ văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 7-8 ) BÀI LÀM I. Mở bài Tô Hoài là một trong những nhà văn có sức sáng tạo dồi dào nhất trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của nhiều vùng văn hoá khác nhau trên đất nước ta. Thành công nhất của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng Tây Bắc, tiêu biểu là truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. Tác phẩm vừa là một bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức phong kiến và thực dân, vừa là một bài ca về sức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người. Điều đó được thể hiện rõ nét qua sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm tình mùa xuân. II.Thân bài 1. Khái quát Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài; phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, họ thành vợ chồng. Được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích cùng Mị đánh Pháp bảo vệ dân làng. Đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất của tác phẩm. Trong tác phẩm này, diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân được xem là ấn tượng nhất – thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tô Hoài trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. Mị là một cô gái xinh đẹp, tài hoa. Cô có tài thổi sáo, thổi đàn môi khiến bao người mê. Người con gái hiếu thảo ấy xin được ở nhà cuốc nương, trồng ngô trả nợ thay cho cha mẹ. Mị có đủ những phẩm chất tốt đẹp xứng đáng được hưởng một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Thế nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí. Bề ngoài, Mị là con dâu nhưng thực chất bên trong lại là con nợ. Nếu chỉ là con nợ, có thể một ngày nào đó Mị còn hi vọng trả xong nợ mà giải thoát, nhưng Mị lại bị cùng lúc hai tròng dây trói buộc. Mị không dám chết vì sợ làm liên lụy đến cha, và bởi sự ám ảnh, trói buộc của thần quyền. Thời gian đầu về làm dâu, Mị phản kháng quyết liệt. Mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc, và định tự tử bằng lá ngón. Những năm tháng làm dâu là chuỗi dài liên miên trong cực nhọc vất vả, dường như làm tê liệt cả ý thức về bản thân của Mị: “Ở lâu trong cái khổ, Mị đã quen khổ rồi”. Mị tưởng mình là con trâu, con ngựa trong nhà Pá Tra, Mị “lùi lũi như con rùa nuôi sau xó cửa”. Căn buồng của Mị như ngục thất tinh thần. Mị sống vật vờ như một cái bóng, mất hết ý niệm về thời gian. Điều kì diệu là dẫu trong tột cùng đau thương thì mọi thế lực tội ác cũng không hủy diệt được con người. Bị đọa đày cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng Mị vẫn sống âm thầm mà mãnh liệt. Từ trong sâu thẳm tâm hồn người con gái ấy vẫn âm ỉ, le lói một ngọn lửa khao khát sống khi mùa xuân về. Khi mùa xuân về, như quy luật vạn vật hồi sinh, sức trẻ trong Mị bừng trỗi dậy. Mị khêu đèn lên cho bừng sáng căn buồng của mình, lén lấy hũ rượu uống ực từng bát. Mị bổi hổi nghe tiếng sáo. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Trông thấy Mị chuẩn bị đi chơi, A Sử bước lại, nắm lấy Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói Mị đứng vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa 2. Phân tích tâm trạng và hành động của Mị trong đoạn văn: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượi còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi...”. Mị như quên hẳn mình đang bị trói, quên những đau đớn về thể xác, Mị vẫn thả hồn theo những cuộc chơi, những tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết, tiếng sáo không chỉ vang vọng trong không gian mà còn tồn tại trong chính tâm hồn Mị. Ngay cả khi cô bị trói đứng thì âm thanh của tiếng sáo như ma lực làm bùng cháy trong Mị niềm khao khát yêu, khao khát sống. 17
- “Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được”. Tiếng sáo của những đôi lứa yêu nhau và của cả những người lỡ duyên đã có sự tác động lớn lao tới tâm hồn Mị. Nó thôi thúc Mị, khiến Mị vùng bước đi, quên thực tại đau khổ trước mắt. Chi tiết Mị “vùng bước đi” đã minh chứng được sức sống mãnh liệt trong tâm hồn Mị. Tâm hồn ấy đang đến với tự do, đang tràn trề nỗi yêu đương của tuổi trẻ. Nhưng cũng chính lúc này, khi “vùng bước đi” theo tiếng sáo, sợi dây trói thắt vào “tay chân đau không cựa được”, Mị mới trở lại với hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã. Lòng Mị đau đớn, thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Tiếng sáo tượng trưng cho tình yêu, hạnh phúc đột ngột biến mất, “Mị không nghe thấy tiếng sáo nữa”. “Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa”, tiếng chân ngựa đạp vào vách, nhai cỏ, gãi chân là những âm thanh của thực tại, đưa Mị trở lại với sự liên tưởng đau đớn bởi kiếp sống “không bằng con ngựa” của mình. Sau bao nhiêu năm tháng, Mị đã tỉnh táo nhận ra thân phận trâu ngựa của mình, đã thổn thức khi thấy mình “không bằng con ngựa” nhà thống lí. Hình ảnh so sánh con người với con vật cứ day dứt, trở đi trở lại trong tác phẩm. Khi về làm vợ A Sử chắc chắn nhiều lần Mị đã bị hắn đánh đập, hành hạ. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên Mị thổn thức nghĩ không bằng con ngựa. Bởi những lần trước Mị nghĩ mình cũng là con trâu, con ngựa thì đó là ý nghĩ của con người cam chịu, quen khổ. Còn giờ đây, nó là cái thổn thức của tâm hồn bị vùi dập. Như vậy rõ ràng là cường quyền và thần quyền tàn bạo không thể dập tắt nổi khát vọng hạnh phúc, tình yêu nơi Mị. Cuộc nổi loạn tuy không thành công nhưng nó đã cho người đọc thấy sức sống mãnh liệt tiềm tàng trong những người nông dân tưởng chừng như nhỏ bé, khốn khổ nhất. Cách kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo. Đặc biệt tâm trạng và hành động khá phức tạp của Mị được diễn tả, lí giải một cách cụ thể, hợp lí. Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc, sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình, đậm chất thơ Tất cả thể hiện tài năng viết văn cùng sự am hiểu sâu sắc đời sống, tâm lí đồng bào dân tộc miền núi của Tô Hoài. 3. Nhận xét về tài năng của nhà văn Tô Hoài trong nghệ thuật diễn tả tâm lí nhân vật : Đoạn trích khẳng định tài năng của Tô Hoài trong nghệ thuật diễn tả tâm lí nhân vật. Bằng việc lựa chọn chi tiết đặc sắc, sử dụng hình ảnh giàu sức biểu tượng, giọng điệu trần thuật linh hoạt nhà văn đã diễn tả một cách tinh tế, hấp dẫn diễn biến tâm trạng nhân vật. Qua việc miêu tả sự chuyển biến tâm lí nhân vật Mị, nhà văn bày tỏ sự cảm thông đối với số phận bất hạnh, khổ đau của người lao động miền núi đồng thời trân trọng ngợi ca sức sống tiềm tàng trong tâm hồn họ Tâm lí, tính cách nhân vật Mị rất phù hợp với hướng vận động của tâm lí, tính cách nhân vật trong văn học Việt Nam 1945 – 1975: Thường vận động theo chiều hướng tích cực, gắn với sự “thức tỉnh”, “trưởng thành”,“hồi sinh”. Nhân vật có khả năng vượt lên hoàn cảnh, thậm chí thay đổi hoàn cảnh sống. III. Kết bài Đoạn văn miêu tả tâm trạng nhân vật Mị trong đêm xuân khi bị trói thấm đẫm tính nhân văn, góp phần tô đậm tính cách nhân vật Mị. Đoạn văn miêu tả diễn biến tâm lí Mị trong đêm tình mùa xuân thể hiện rõ nét phẩm chất, tính cách Mị - người con gái Tây Bắc tiềm tàng sức sống. Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc: Sự cảm thông với số phận đau khổ của những con người chịu áp bức, tố cáo lên án giai cấp thống trị miền núi, ngợi ca vẻ đẹp của con người Tây Bắc. ĐỀ 7: Trong bóng tối, Mị đứng im lặng,như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn. Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. "Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào!" Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. 18
- Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu toả. Tiếng sáo. Tiếng chó sửa xa xa. Mỵ lúc mê, lúc tình. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ. Mỵ bàng hoàng tỉnh. Buổi sáng âm sâm trong cái nhà gỗ rộng. Vách bên cũng im ắng. Không nghe tiếng lửa réo trong lò nấu lợn. Không một tiếng động. Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan đã được đi chơi hay cũng đang phải trói như Mị. Mị không thể biết.Ðời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài, một đời người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng. Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết. Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt từng mảnh thịt. (Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr 8,9) Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cái nhìn về người nông dân của nhà văn Tô Hoài. BÀI LÀM: I. Mở bài Tô Hoài là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại. “Vợ chồng A Phủ” – một tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhà văn Tô Hoài trong hơn nửa thế kỉ qua. Sức hấp dẫn của thiên truyện chủ yếu từ hai nhân vật được khắc họa khá thành công với những cá tính nghệ thuật đặc sắc. Đặc biệt khi khắc họa nhân vật Mị, nhà văn bộc lộ năng lực khám phá chiều sâu nội tâm con người sâu sắc và tinh tế, đồng thời thể hiện cái nhìn mới mẻ về người nông dân. Cụ thể ở đoạn trích: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng [ ].Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt từng mảnh thịt.” II. Thân bài 1. Khái quát Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ ” được sáng tác năm 1952 và in trong tập "Truyện Tây Bắc " (1953). Đây là một tác phẩm có giá trị của văn xuôi Việt Nam hiện đại khi phản ánh chân thực và sinh động con đường của nhân dân miền núi cao Tây Bắc đi theo cách mạng. Tác phẩm gồm hai phần : Phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, là nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra. Kết thúc phần đầu là cảnh Mị cắt dây trói cứu A Phủ và cùng A Phủ trốn khỏi nhà Pá Tra. Phần sau kể Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, họ thành vợ chồng, được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng. A Phủ trở thành đội trưởng du kích đánh Pháp bảo vệ làng. Mị là một cô gái xinh đẹp, tài hoa. Cô có tài thổi sáo, thổi đàn môi khiến bao người mê. Người con gái hiếu thảo ấy xin được ở nhà cuốc nương, trồng ngô trả nợ thay cho cha mẹ. Mị có đủ những phẩm chất tốt đẹp xứng đáng được hưởng một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Thế nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà thống lí. Bề ngoài, Mị là con dâu nhưng thực chất bên trong lại là con nợ. Nếu chỉ là con nợ, có thể một ngày nào đó Mị còn hi vọng trả xong nợ mà giải thoát, nhưng Mị lại bị cùng lúc hai tròng dây trói buộc. Mị không dám chết vì sợ làm liên lụy đến cha, và bởi sự ám ảnh, trói buộc của thần quyền. Thời gian đầu về làm dâu, Mị phản kháng quyết liệt. Mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc, và định tự tử bằng lá ngón. Những năm tháng làm dâu là chuỗi dài liên miên trong cực nhọc vất vả, dường như làm tê liệt cả ý thức về bản thân của Mị: “Ở lâu trong cái khổ, Mị đã quen khổ rồi”. Mị tưởng mình là con trâu, con ngựa trong nhà Pá Tra, Mị “lùi lũi như con rùa nuôi sau xó cửa”. Căn buồng của Mị như ngục thất tinh thần. Mị sống vật vờ như một cái bóng, mất hết ý niệm về thời gian. Điều kì diệu là dẫu trong tột cùng đau thương thì mọi thế lực tội ác cũng không hủy diệt được con người. Bị đọa đày cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng Mị vẫn sống âm thầm mà mãnh liệt. Từ trong sâu thẳm tâm hồn người con gái ấy vẫn âm ỉ, le lói một ngọn lửa khao khát sống khi mùa xuân về. 19
- Khi mùa xuân về, như quy luật vạn vật hồi sinh, sức trẻ trong Mị bừng trỗi dậy. Mị khêu đèn lên cho bừng sáng căn buồng của mình, lén lấy hũ rượu uống ực từng bát. Mị bổi hổi nghe tiếng sáo. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Trông thấy Mị chuẩn bị đi chơi, A Sử bước lại, nắm lấy Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói Mị đứng vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa 2. Cảm nhận đoạn trích: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượi còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi...”: Mị như quên hẳn mình đang bị trói, quên những đau đớn về thể xác, Mị vẫn thả hồn theo những cuộc chơi, những tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết, tiếng sáo không chỉ vang vọng trong không gian mà còn tồn tại trong chính tâm hồn Mị. Ngay cả khi cô bị trói đứng thì âm thanh của tiếng sáo như ma lực làm bùng cháy trong Mị niềm khao khát yêu, khao khát sống. “Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được”: Tiếng sáo của những đôi lứa yêu nhau và của cả những người lỡ duyên đã có sự tác động lớn lao tới tâm hồn Mị. Nó thôi thúc Mị, khiến Mị vùng bước đi, quên thực tại đau khổ trước mắt. Chi tiết Mị “vùng bước đi” đã minh chứng được sức sống mãnh liệt trong tâm hồn Mị. Tâm hồn ấy đang đến với tự do, đang tràn trề nỗi yêu đương của tuổi trẻ. Nhưng cũng chính lúc này, khi “vùng bước đi” theo tiếng sáo, sợi dây trói thắt vào “tay chân đau không cựa được”, Mị mới trở lại với hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã. Lòng Mị đau đớn, thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Tiếng sáo tượng trưng cho tình yêu, hạnh phúc đột ngột biến mất, “Mị không nghe thấy tiếng sáo nữa”. “Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa”, tiếng chân ngựa đạp vào vách, nhai cỏ, gãi chân là những âm thanh của thực tại, đưa Mị trở lại với sự liên tưởng đau đớn bởi kiếp sống “không bằng con ngựa” của mình. Sau bao nhiêu năm tháng, Mị đã tỉnh táo nhận ra thân phận trâu ngựa của mình, đã thổn thức khi thấy mình “không bằng con ngựa” nhà thống lí. Hình ảnh so sánh con người với con vật cứ day dứt, trở đi trở lại trong tác phẩm. Khi về làm vợ A Sử chắc chắn nhiều lần Mị đã bị hắn đánh đập, hành hạ. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên Mị thổn thức nghĩ không bằng con ngựa. Bởi những lần trước Mị nghĩ mình cũng là con trâu, con ngựa thì đó là ý nghĩ của con người cam chịu, quen khổ. Còn giờ đây, nó là cái thổn thức của tâm hồn bị vùi dập. Dù đã trở lại với thực tại tàn nhẫn, suốt đêm mùa xuân ấy, quá khứ vẫn “nồng nàn tha thiết” trong nỗi nhớ của Mị với “hơi rượu toả, tiếng sáo dập dờn, tiếng chó sủa xa xa...” Đêm khuya là lúc trai đến bên vách làm hiệu rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. Mị phải sống trong sự giằng xé giữa khao khát cháy bỏng, hiện tại tàn nhẫn. Tâm trạng Mị đồng hiện giữa quá khứ, hiện tại, chập chờn giữa tỉnh và mê. Trong đêm tình mùa xuân này, Mị đã thức tỉnh để nhận ra những bất hạnh, những cay đắng trong thân phận trâu ngựa của mình. Khi nhận ra thì cảm nhận về sự khổ ải sẽ càng thấm thìa. Từ nay, có lẽ Mị sẽ không thể yên ổn với những suy nghĩ buông xuôi, cam chịu của mình. Khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc, khát vọng tuổi trẻ đã hồi sinh nhưng cũng đã bị vùi dập. Và nó đang chờ ngọn gió để thổi bùng lên. Mị bàng hoàng tỉnh... Không một tiếng động. Mị thương những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan. Cô Mị của ngày xưa - một người sống như đang chết, sống trong cảm giác chờ đợi sự giải thoát từ cái chết, giờ đây lại biết xót thương cho người khác, biết sợ hãi trước cái chết. Mị thấy sợ khi nhớ tới từng có người đàn bà cũng bị đánh, bị trói đã chết đứng chính căn buồng này. “Mị sợ quá, Mị cựa quậy” như để chứng minh mình vẫn còn sống. Mị sợ chết vì ám ảnh bởi bóng ma của thần quyền. Mị sợ chết cũng chứng tỏ Mị khao khát sống. Chết lúc này là chết oan uổng. Chính tiếng sáo, tiếng gọi tình yêu đã giúp Mị nhận ra sự sống đáng quý: phải sống để được yêu, được đón nhận hạnh phúc tuổi trẻ Một khi biết sợ chết thì người ta càng thêm yêu cuộc sống. Mị cũng vậy. Như vậy rõ ràng là cường quyền và thần quyền tàn bạo không thể dập tắt nổi khát vọng hạnh phúc, tình yêu nơi Mị. Cuộc nổi loạn tuy không thành công nhưng nó đã cho người đọc thấy sức sống mãnh liệt tiềm tàng trong những người nông dân tưởng chừng như nhỏ bé, khốn khổ nhất. 20

